Tội pācittiya hoặc dukkaṭa khi tuyên bố chứng pháp thượng nhân có thực chứng trong giới luật tỳ kheo

[304] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Vesālī, Mahāvana, giảng đường Kūṭāgāra. Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu thân thiết đồng quan điểm đã vào mùa (an cư) mưa ở bờ sông Vaggumudā. Vào lúc bấy giờ, xứ Vajjī có sự khó khăn về vật thực, đời sống khổ cực, dịch bệnh hoành hành, vật thực được phân phối theo thẻ, không dễ dàng sinh sống bằng sự ra sức khất thực. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã khởi ý điều này: “Hiện nay, xứ Vajjī có sự khó khăn về vật thực, đời sống khổ cực, dịch bệnh hoành hành, vật thực được phân phối theo thẻ, không dễ dàng sinh sống bằng sự ra sức khất thực. Còn chúng ta có sự hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ nhau, vậy bằng phương thức nào chúng ta có thể sống mùa (an cư) mưa một cách thoải mái và không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực?”

Một số vị đã nói như vầy:

  • Này các đại đức, chúng ta hãy quyết định làm công việc cho các người tại gia đi; như thế họ sẽ nghĩ đến mà bố thí cho chúng ta. Như thế chúng ta có sự hòa hợp, thân thiện, không cãi cọ nhau sẽ sống mùa (an cư) mưa một cách thoải mái và sẽ không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực.

tuyen bo chung phap thuong nhan co thuc chung

Một số vị đã nói như vầy:

  • Này các đại đức, thôi đi! Việc gì lại quyết định làm công việc cho các người tại gia? Này các đại đức, chúng ta hãy đưa tin tức cho các người tại gia đi; như thế họ sẽ nghĩ đến mà bố thí cho chúng ta. Như thế chúng ta có sự hòa hợp, thân thiện, không cãi cọ nhau sẽ sống mùa (an cư) mưa một cách thoải mái và sẽ không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực.

Một số vị đã nói như vầy:

  • Này các đại đức, thôi đi! Việc gì lại quyết định làm công việc cho các người tại gia? Việc gì lại đưa tin tức cho các người tại gia? Này các đại đức, chúng ta sẽ nói lời ca ngợi lẫn nhau về pháp thượng nhân đến các người tại gia rằng: “Vị tỳ khưu như vầy đạt sơ thiền, vị tỳ khưu như vầy đạt nhị thiền, vị tỳ khưu như vầy đạt tam thiền, vị tỳ khưu như vầy đạt tứ thiền, vị tỳ khưu như vầy là vị Nhập Lưu, vị tỳ khưu như vầy là vị Nhất Lai, vị tỳ khưu như vầy là vị Bất Lai, vị tỳ khưu như vầy là vị A-la-hán, vị tỳ khưu như vầy có tam Minh, vị tỳ khưu như vầy có lục Thông;” như thế họ sẽ nghĩ đến mà bố thí cho chúng ta. Như thế chúng ta có sự hòa hợp, thân thiện, không cãi cọ nhau sẽ sống mùa (an cư) mưa một cách thoải mái và sẽ không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực.
  • Này các đại đức, chính điều này là tốt hơn hết tức là việc chúng ta nói lời ca ngợi lẫn nhau về pháp thượng nhân đến các người tại gia.

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã ca ngợi lẫn nhau về pháp thượng nhân đến các người tại gia:

  • Vị tỳ khưu như vầy đạt sơ thiền, …(như trên)… vị tỳ khưu như vầy có lục Thông

Khi ấy, những người dân ấy (nghĩ rằng): “Quả thật điều lợi ích đã có cho chúng ta! Quả thật chúng ta đã đạt được điều tốt! Chúng ta có được các tỳ khưu như vầy trong số các tỳ khưu có giới có thiện pháp vào mùa (an cư) mưa! Quả thật từ trước đến nay không có các tỳ khưu như vầy vào mùa (an cư) mưa như là các vị tỳ khưu có giới có thiện pháp này vậy!” Họ cúng dường đến các tỳ khưu những vật thực loại mềm mà họ không ăn cho chính bản thân, không dâng đến cha mẹ, không cho đến vợ con, không cho đến các tôi tớ và người làm công, không cho đến bạn bè và các quan lại, không cho đến các thân quyến cùng huyết thống. Họ cúng dường đến các tỳ khưu những vật thực loại cứng mà họ không nhai cho chính bản thân, không dâng đến cha mẹ, …(như trên)…, không cho đến các thân quyến cùng huyết thống. Họ cúng dường đến các tỳ khưu những thức nếm mà họ không nếm thử cho chính bản thân, không dâng đến cha mẹ, …(như trên)… không cho đến các thân quyến cùng huyết thống. Họ cúng dường đến các tỳ khưu những thức uống mà họ không uống cho chính bản thân, không dâng đến cha mẹ, không cho đến vợ con, không cho đến các tôi tớ và người làm công, không cho đến bạn bè và các quan lại, không cho đến các thân quyến cùng huyết thống.

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã có được tướng mạo, căn quyền sung mãn, sắc diện rạng rỡ, sắc thân an tịnh.

[305] Điều này đã trở thành thông lệ cho các tỳ khưu đã trải qua mùa (an cư) mưa là đi đến diện kiến đức Thế Tôn. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy trải qua ba tháng mùa (an cư) mưa đã thu xếp chỗ trú ngụ, cầm y bát, ra đi về phía thành Vesālī. Trong khi tuần tự du hành, các vị đã đi đến thành Vesālī, Mahāvana, giảng đường Kūṭāgāra gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên.

Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư) mưa ở các phương thì ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân; trái lại các vị tỳ khưu ở bờ sông Vaggumudā có được tướng mạo, căn quyền sung mãn, sắc diện rạng rỡ, sắc thân an tịnh.

Điều này đã trở thành thông lệ của chư Phật Thế Tôn là niềm nở đối với các tỳ khưu đi đến. Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với vị các tỳ khưu ở bờ sông Vaggumudā điều này:

  • Này các tỳ khưu, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được tốt đẹp không? Các ngươi có sự hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ nhau đã sống qua mùa (an cư) mưa có được thoải mái không? Và không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực?
  • Bạch Thế Tôn, sức khoẻ khá. Bạch Thế Tôn, mọi việc đều tốt đẹp. Và bạch ngài, chúng con có sự hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ nhau đã sống qua mùa (an cư) mưa được thoải mái, và không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực.

  • Các đấng Như Lai dầu biết vẫn hỏi, dầu biết các vị vẫn không hỏi, biết đúng thời các vị mới hỏi, biết đúng thời các vị vẫn không hỏi. Các đấng Như lai hỏi có liên quan đến lợi ích và không (hỏi việc) không có liên quan đến lợi ích, khi không có liên quan đến lợi ích các đấng Như Lai có cách để cắt đứt vấn đề. Chư Phật Thế Tôn hỏi các tỳ khưu bởi hai lý do: “Chúng ta sẽ thuyết Pháp hoặc sẽ quy định điều học cho các đệ tử.” Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với các vị tỳ khưu ở bờ sông Vaggumudā điều này:

    • Này các tỳ khưu, các ngươi có sự hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ nhau đã sống qua mùa (an cư) mưa được thoải mái và không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực như thế nào?

    Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

    • Này các tỳ khưu, các ngươi có thực chứng không?
  • Bạch Thế Tôn, có thực chứng.

  • Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

    Này các tỳ khưu, vì sao các ngươi lại ca ngợi lẫn nhau về pháp thượng nhân đến các người tại gia vì lý do của bao tử vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:Vị tỳ khưu nào tuyên bố pháp thượng nhân đến người chưa tu lên bậc trên (nếu) có thực chứng thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

    [306] Vị nào: là bất cứ vị nào …(như trên)…

    Tỳ khưu: …(như trên)… Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.

    Người chưa tu lên bậc trên nghĩa là trừ ra tỳ khưu và tỳ khưu ni, (các người) còn lại là người chưa tu lên bậc trên.

    [307] Pháp thượng nhân nghĩa là thiền, sự giải thoát, định, sự chứng đạt, trí tuệ và sự thấy biết, sự tu tập về Đạo, sự thực chứng về Quả, sự dứt bỏ phiền não, sự không còn bị che lấp của tâm, sự thỏa thích ở nơi thanh vắng.

    [308] Thiền: là sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền.

    Sự giải thoát: là vô phiền não giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải thoát.[6]

    Định: là vô phiền não định, vô tướng định, vô nguyện định.

    Sự chứng đạt: là sự chứng đạt về trạng thái vô phiền não, sự chứng đạt về trạng thái vô tướng, sự chứng đạt về trạng thái vô nguyện.

    Trí tuệ: là tam Minh.

    Sự tu tập về Đạo: là tứ Niệm Xứ, tứ Chánh Cần, tứ Như Ý Túc, ngũ Quyền, ngũ Lực, thất Giác Chi, bát Chánh Đạo.

    Sự thực chứng về Quả: là sự thực chứng quả vị Nhập Lưu, sự thực chứng quả vị Nhất Lai, sự thực chứng quả vị Bất Lai, sự thực chứng quả vị A-la-hán.

    Sự dứt bỏ phiền não: là sự dứt bỏ tham ái, sự dứt bỏ sân, sự dứt bỏ si.

    Sự không còn bị che lấp của tâm: nghĩa là tâm không còn bị che lấp bởi tham ái, tâm không còn bị che lấp bởi sân, tâm không còn bị che lấp bởi si.

    Sự thỏa thích ở nơi thanh vắng: là sự thỏa thích ở nơi thanh vắng với sơ thiền, sự thỏa thích ở nơi thanh vắng với nhị thiền, sự thỏa thích ở nơi thanh vắng với tam thiền, sự thỏa thích ở nơi thanh vắng với tứ thiền.

    [309] Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng sơ thiền” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị). Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi chứng sơ thiền” thì phạm tội pācittiya. Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng được sơ thiền” thì phạm tội pācittiya. Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đạt sơ thiền” thì phạm tội pācittiya. Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi trú sơ thiền” thì phạm tội pācittiya. Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã thực chứng sơ thiền” thì phạm tội pācittiya.

    [310] Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng … tôi chứng … tôi đã chứng được nhị thiền, … tam thiền, … tứ thiền, … tôi đạt … tôi trú tứ thiền, … tôi đã thực chứng tứ thiền” thì phạm tộipācittiya (ưng đối trị).

    [311] Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng … tôi chứng … tôi đã chứng được vô phiền não giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải thoát, vô phiền não định, vô tướng định, vô nguyện định, … tôi đạt … tôi trú vô nguyện định, … tôi đã thực chứng vô nguyện định” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

    [312] Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng … tôi chứng … tôi đã chứng được sự chứng đạt về trạng thái vô phiền não, sự chứng đạt về trạng thái vô tướng, sự chứng đạt về trạng thái vô nguyện, … tôi đạt … tôi trú sự chứng đạt về trạng thái vô nguyện, … tôi đã thực chứng sự chứng đạt về trạng thái vô nguyện” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

    [313] Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng … tôi chứng … tôi đã chứng được tam Minh, … tôi đạt … tôi trú tam Minh, … tôi đã thực chứng tam Minh” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

    [314] Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng … tôi chứng … tôi đã chứng được tứ Niệm Xứ, tứ Chánh Cần, tứ Như Ý Túc, … tôi đạt … tôi trú tứ Như Ý Túc, … tôi đã thực chứng tứ Như Ý Túc” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

    [315] Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng … tôi chứng … tôi đã chứng được ngũ Quyền, ngũ Lực, … tôi đạt … tôi trú ngũ Lực, … tôi đã thực chứng ngũ Lực” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

    [316] Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng … tôi chứng … tôi đã chứng được thất Giác Chi, … tôi đạt … tôi trú thất Giác Chi, … tôi đã thực chứng thất Giác Chi” thì phạm tội pācittiya(ưng đối trị).

    [317] Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng … tôi chứng … tôi đã chứng được bát Chánh Đạo, … tôi đạt … tôi trú bát Chánh Đạo, … tôi đã thực chứng bát Chánh Đạo” thì phạm tội pācittiya(ưng đối trị).

    [318] Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng … tôi chứng … tôi đã chứng được quả vị Nhập Lưu, quả vị Nhất Lai, quả vị Bất Lai, quả vị A-la-hán, … tôi đạt … tôi trú quả vị A-la-hán, … tôi đã thực chứng quả vị A-la-hán” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

    [319] Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã từ bỏ tham ái, tôi đã từ bỏ sân, tôi đã từ bỏ, đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã khai trừ, đã đoạn trừ si” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị). ,

    [320] Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái, tâm của tôi không bị che lấp bởi sân, tâm của tôi không bị che lấp bởi si” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

    [321] Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng … tôi chứng … tôi đã chứng được sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền ở nơi thanh vắng, tôi đạt … tôi trú tứ thiền ở nơi thanh vắng, tôi đã thực chứng tứ thiền ở nơi thanh vắng” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

    [322] Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng … tôi chứng … tôi đã chứng được sơ thiền và nhị thiền, … tôi đạt … tôi trú sơ thiền và nhị thiền, … tôi đã thực chứng sơ thiền và nhị thiền” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

    Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng … tôi chứng … tôi đã chứng được sơ thiền và tam thiền, …(như trên)… “Tôi đã chứng … tôi chứng … tôi đã chứng được sơ thiền và tứ thiền, … tôi đạt … tôi trú sơ thiền và tứ thiền, … tôi đã thực chứng sơ thiền và tứ thiền” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

    [323] Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng … tôi chứng … tôi đã chứng được sơ thiền, vô phiền não giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải thoát, vô phiền não định, vô tướng định, và vô nguyện định, … tôi đạt … tôi trú sơ thiền và vô nguyện định, … tôi đã thực chứng sơ thiền và vô nguyện định” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

    [324] Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng … tôi chứng … tôi đã chứng được sơ thiền và sự chứng đạt về trạng thái vô phiền não, và sự chứng đạt về trạng thái vô tướng, và sự chứng đạt về trạng thái vô nguyện, … tôi đạt … tôi trú sơ thiền và sự chứng đạt về trạng thái vô nguyện, … tôi đã thực chứng sơ thiền và sự chứng đạt về trạng thái vô nguyện” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

    [325] Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng … tôi chứng … tôi đã chứng được sơ thiền và tam Minh, … tôi đạt … tôi trú sơ thiền và tam Minh, … tôi đã thực chứng sơ thiền và tam Minh” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

    [326] Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng … tôi chứng … tôi đã chứng được sơ thiền và tứ Niệm Xứ, sơ thiền và tứ Chánh Cần, sơ thiền và tứ Như Ý Túc, … tôi đạt … tôi trú sơ thiền và tứ Như Ý Túc, … tôi đã thực chứng sơ thiền và tứ Như Ý Túc” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

    [327] Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng … tôi chứng … tôi đã chứng được sơ thiền và ngũ Quyền, sơ thiền và ngũ Lực, … tôi đạt … tôi trú sơ thiền và ngũ Lực, … tôi đã thực chứng sơ thiền và ngũ Lực” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

    [328] Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng … tôi chứng … tôi đã chứng được sơ thiền và thất Giác Chi, … tôi đạt … tôi trú sơ thiền và thất Giác Chi, … tôi đã thực chứng sơ thiền và thất Giác Chi” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

    [329] Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng … tôi chứng … tôi đã chứng được sơ thiền và bát Chánh Đạo, … tôi đạt … tôi trú sơ thiền và bát Chánh Đạo, … tôi đã thực chứng sơ thiền và bát Chánh Đạo” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

    [330] Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng … tôi chứng … tôi đã chứng được sơ thiền và quả vị Nhập Lưu, sơ thiền và quả vị Nhất Lai, sơ thiền và quả vị Bất Lai, sơ thiền và quả vị A-la-hán, … tôi đạt … tôi trú sơ thiền và quả vị A-la-hán, … tôi đã thực chứng sơ thiền và quả vị A-la-hán” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

    [331] Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng … tôi chứng … tôi đã chứng được sơ thiền và tôi đã từ bỏ tham ái, và tôi đã từ bỏ sân, và tôi đã từ bỏ, đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã khai trừ, đã đoạn trừ si” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

    [332] Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng … tôi chứng … tôi đã chứng được sơ thiền và tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái, và tâm của tôi không bị che lấp bởi sân, và tâm của tôi không bị che lấp bởi si” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

    [333] Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng … tôi chứng … tôi đã chứng được nhị thiền và tam thiền, nhị thiền và tứ thiền, … tôi đạt … tôi trú nhị thiền và tứ thiền, … tôi đã thực chứng nhị thiền và tứ thiền” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

    Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng nhị thiền …(như trên)… và tâm của tôi không bị che lấp bởi si” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

    Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng … tôi chứng … tôi đã chứng được nhị thiền và sơ thiền, … tôi đạt … tôi trú nhị thiền và sơ thiền, … tôi đã thực chứng nhị thiền và sơ thiền” thì phạm tộipācittiya (ưng đối trị). …(như trên)…

    Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng … tôi chứng … tôi đã chứng được sơ thiền. … tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đạt … tôi trú sơ thiền, tâm của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã thực chứng sơ thiền” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị). …(như trên)…

    Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si và và tâm của tôi không bị che lấp bởi sân” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

    [334] Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng … tôi chứng … tôi đã chứng được sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, vô phiền não giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải thoát, vô phiền não định, vô tướng định, vô nguyện định, sự chứng đạt về trạng thái vô phiền não, sự chứng đạt về trạng thái vô tướng, sự chứng đạt về trạng thái vô nguyện, tam Minh, tứ Niệm Xứ, tứ Chánh Cần, tứ Như Ý Túc, ngũ Quyền, ngũ Lực, thất Giác Chi, bát Chánh Đạo, quả vị Nhập Lưu, quả vị Nhất Lai, quả vị Bất Lai, quả vị A-la-hán, …(như trên)… Tôi đã từ bỏ tham ái, …(như trên)… Tôi đã từ bỏ sân …(như trên)… Tôi đã từ bỏ, đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã khai trừ, đã đoạn trừ si …(như trên)… Tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái, tâm của tôi không bị che lấp bởi sân, và tâm của tôi không bị che lấp bởi si” thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).

    [335] Tuyên bố: Vị có ý định nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng sơ thiền” lại nói: “Tôi đã chứng nhị thiền,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị), (người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    Tuyên bố: Vị có ý định nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng sơ thiền” lại nói: “Tôi đã chứng tam thiền, tứ thiền, vô phiền não giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải thoát, vô phiền não định, vô tướng định, vô nguyện định, sự chứng đạt về trạng thái vô phiền não, sự chứng đạt về trạng thái vô tướng, sự chứng đạt về trạng thái vô nguyện, tam Minh, tứ Niệm Xứ, tứ Chánh Cần, tứ Như Ý Túc, ngũ Quyền, ngũ Lực, thất Giác Chi, bát Chánh Đạo, quả vị Nhập Lưu, quả vị Nhất Lai, quả vị Bất Lai, quả vị A-la-hán, tôi đã từ bỏ tham ái, tôi đã từ bỏ sân, tôi đã từ bỏ, đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã khai trừ, đã đoạn trừ si, tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái, tâm của tôi không bị che lấp bởi sân, và tâm của tôi không bị che lấp bởi si,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị), (người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    [336] Tuyên bố: Vị có ý định nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng nhị thiền” …(như trên)… lại nói: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị), (người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    Tuyên bố: Vị có ý định nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng nhị thiền” lại nói: “Tôi đã chứng sơ thiền,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị), (người nghe) không hiểu được thì phạm tộidukkaṭa (tác ác). …(như trên)…

    Tuyên bố: Vị có ý định nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si” lại nói: “Tôi đã chứng sơ thiền,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị), (người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)…

    Tuyên bố: Vị có ý định nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si” lại nói: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi sân,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị), (người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    Tuyên bố: Vị có ý định nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, và tứ thiền ” …(như trên)… Vị có ý định nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi sân” lại nói: “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị), (người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    [337] Tuyên bố: Vị có ý định nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Tôi đã chứng nhị thiền, tam thiền, và tứ thiền ” …(như trên)… “Tâm của tôi không bị che lấp bởi si” lại nói: “Tôi đã chứng sơ thiền,” (người nghe) hiểu được thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị), (người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    [338] Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Vị (tỳ khưu) nào đã cư ngụ trong trú xá của đạo hữu, vị tỳ khưu ấy đã chứng … chứng … đã chứng được sơ thiền, vị tỳ khưu ấy có sự đạt được … có sự an trú của sơ thiền, sơ thiền đã được thực chứng bởi vị tỳ khưu ấy” thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Vị (tỳ khưu) nào đã cư ngụ trong trú xá của đạo hữu, vị tỳ khưu ấy đã chứng … chứng … đã chứng được nhị thiền, tam thiền, tứ thiền; vị tỳ khưu ấy có sự đạt được … có sự an trú của tứ thiền; tứ thiền đã được thực chứng bởi vị tỳ khưu ấy” thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Vị (tỳ khưu) nào đã cư ngụ trong trú xá của đạo hữu, vị tỳ khưu ấy đã chứng … chứng … đã chứng được vô phiền não giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải thoát, vô phiền não định, vô tướng định, vô nguyện định; vị tỳ khưu ấy có sự đạt được … có sự an trú của vô nguyện định; vô nguyện định đã được thực chứng bởi vị tỳ khưu ấy” thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Vị (tỳ khưu) nào đã cư ngụ trong trú xá của đạo hữu, vị tỳ khưu ấy đã chứng sự chứng đạt về trạng thái vô phiền não, sự chứng đạt về trạng thái vô tướng, sự chứng đạt về trạng thái vô nguyện, tam Minh, tứ Niệm Xứ, tứ Chánh Cần, tứ Như Ý Túc, ngũ Quyền, ngũ Lực, thất Giác Chi, bát Chánh Đạo, quả vị Nhập Lưu, quả vị Nhất Lai, quả vị Bất Lai và quả vị A-la-hán, …(như trên)… vị tỳ khưu ấy đã từ bỏ tham ái, …(như trên)… đã từ bỏ sân …(như trên)… đã từ bỏ, đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã khai trừ, đã đoạn trừ si, vị tỳ khưu ấy có tâm không bị che lấp bởi tham ái, có tâm không bị che lấp bởi sân, và có tâm không bị che lấp bởi si” thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Vị (tỳ khưu) nào đã cư ngụ trong trú xá của đạo hữu, vị tỳ khưu ấy đã chứng … chứng… đã chứng được sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền ở nơi thanh vắng; vị tỳ khưu ấy có sự đạt được … có sự an trú của tứ thiền ở nơi thanh vắng, tứ thiền ở nơi thanh vắng đã được thực chứng bởi vị tỳ khưu ấy ở nơi thanh vắng” thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Vị (tỳ khưu) nào đã thọ dụng trú xá của đạo hữu, vị (tỳ khưu) nào đã thọ dụng y của đạo hữu, vị (tỳ khưu) nào đã thọ dụng vật thực của đạo hữu, vị (tỳ khưu) nào đã thọ dụng chỗ trú ngụ của đạo hữu, vị (tỳ khưu) nào đã thọ dụng vật dụng là thuốc men trị bệnh của đạo hữu, vị tỳ khưu ấy đã chứng … chứng … đã chứng được tứ thiền ở nơi thanh vắng; vị tỳ khưu ấy có sự đạt được … có sự an trú của tứ thiền ở nơi thanh vắng, tứ thiền ở nơi thanh vắng đã được thực chứng bởi vị tỳ khưu ấy” thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    [339] Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Trú xá của đạo hữu đã được thọ dụng bởi vị (tỳ khưu) nào, y của đạo hữu đã được thọ dụng bởi vị (tỳ khưu) nào, vật thực của đạo hữu đã được thọ dụng bởi vị (tỳ khưu) nào, chỗ trú ngụ của đạo hữu đã được thọ dụng bởi vị (tỳ khưu) nào, vật dụng là thuốc men trị bệnh của đạo hữu đã được thọ dụng bởi vị (tỳ khưu) nào, vị tỳ khưu ấy đã chứng … chứng … đã chứng được tứ thiền ở nơi thanh vắng; vị tỳ khưu ấy có sự đạt được … có sự an trú của tứ thiền ở nơi thanh vắng, tứ thiền ở nơi thanh vắng đã được thực chứng bởi vị tỳ khưu ấy” thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

    [340] Tuyên bố: Vị nói đến người chưa tu lên bậc trên rằng: “Vị (tỳ khưu) nào đạo hữu đã đi đến và đã dâng trú xá, và đã dâng vật dụng là y, vật thực, chỗ trú ngụ, dược phẩm trị bệnh, vị tỳ khưu ấy đã chứng tứ thiền ở nơi thanh vắng; ,,,(như trên)… tứ thiền ở nơi thanh vắng đã được thực chứng bởi vị tỳ khưu ấy” thì phạm tộidukkaṭa (tác ác).

    [341] Vị tuyên bố sự thực chứng đến người đã tu lên bậc trên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

    Tạng Luật – Bộ Phân Tích Giới Bổn
    Vinaya Pitaka – Suttavibhanga
    Phân Tích Giới Tỳ-khưu – II
    (Bhikkhuvibhanga II)
    Tỳ-khưu Indacanda Nguyệt Thiên dịch

    nguồn: http://www.budsas.org/uni/u-luat-ptg/tk2-08a.htm