Phật giáo Nam tông ở Cố đô Huế

Phật giáo Nam tông ở Cố đô Huế

NỘI DUNG

I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH

1. Niên đại và người khai sáng
2. Nguyên nhân du nhập
3. Những điểm thuận lợi và khó khăn

4. Ðôi nét về cuộc đời người khai sáng và các vị có công truyền bá:

a) Tóm tắt tiểu sử đức Giới Nghiêm, người khai sáng Phật giáo Nam tông tại Huế
b) Tóm tắt tiểu sử Hoà thượng Hộ Nhẫn
c) Tóm tắt tiểu sử Thượng tọa Viên Minh
d) Tóm tắt tiểu sử Thượng tọa Ðịnh Lực
e) Tóm tắt tiểu sử Thượng tọa Giới Ðức
f) Tóm tắt tiểu sử Thượng tọa Hộ Tịnh
g) Tóm tắt tiểu sử Thượng tọa Pháp Tông
h) Tóm tắt tiểu sử Thượng tọa Tuệ Tâm
e) Tóm tắt tiểu sử Ðại đức Giới Hỷ

5. Những thiện nam và tín nữ hộ trì Tam Bảo đầu tiên

II. NHỮNG NGÔI CHÙA Ở CỐ ÐÔ HUẾ

Tăng Quang
Thiền Lâm
Huyền Không
Huyền Không Sơn Thượng
Ðịnh Quang
Pháp Luân

III. ÐÓNG GÓP CỦA PHẬT GIÁO NAM TÔNG

Nghi thức
Lễ hội
Xã hội
Văn hóa

Nghệ thuật kiến trúc:

a. Chùa Tăng Quang
b. Ch
ùa Thiền Lâm
c. Chùa Huyền Không
d. Chùa Huyền Không sơn thượng

IV.KẾT LUẬN

PHỤ LỤC

I. Những Giai Thoại

1. Chuyện trong nhà ngoài phố
2. Chuyện nhà sư và chiếc bình bát
3. Chuyện ma

II. Tài liệu tham khảo

-ooOoo-

I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH

1. Niên đại và người khai sáng.

Có thể nói là Phật giáo Nam Tông ở Huế bắt đầu bằng việc thành lập chùa Tăng Quang vào năm 1954 do Hoà thượng Hộ Tông và Hoà thượng Giới Nghiêm (trực tiếp là Hoà thượng Giới Nghiêm) chủ trương. Lúc đầu, chùa chỉ là một ngôi nhà lá đơn sơ để Ngài Giới Nghiêm dừng chân tu thiền và dạy đạo cho Phật tử hữu duyên. Nhờ oai lực của Tam Bảo và đức độ của Ngài nên Phật tử phát tâm mua đất để xây chùa cho đức Giới Nghiêm và chư Tăng tu hành.

Mãi đến năm 1959, nhờ đức tin trong sạch của Phật tử, chùa Tăng Quang tiến hành trùng tu chánhđiện và xây dựng bảo tháp tôn trí Xá lợi Ðức Phật Thích Ca. Ngày lễ khánh thành và kết giới Sìmà có sự chứng minh của Hoà thượng Hộ Tông, Hoà thượng Bửu Chơn và 63 vị Tỳ kheo Phật giáo Nguyên Thủy từ Sài gòn đến dự lễ.

Năm 1963, Xá lợi Ðức Phật Thích Ca chính thức được cung thỉnh về tôn thờ tại bảo tháp của chùa Tăng Quang cho đến ngày nay.

2. Nguyên nhân du nhập

Hoà thượng Giới Nghiêm xuất gia Sa di năm 1930 tại một ngôi chùa ở làng Bãng Lãng, huyện Hương Trà, thành phố Huế theo truyền thống Phật giáo Bắc tông. Tại cố đô Huế, một ngày nọ đức Giới Nghiêm được trông thấy hình bóng các Sa môn của Phật giáo Nguyên Thủy Lào được Hoàng hậu Từ Cung thỉnh vào Thành Nội tụng kinh đầu năm cầu quốc thái dân an. Hình ảnh những vị tu sĩ Phật giáo Lào là một nhân tố vô cùng tươi đẹp cho đức Giới Nghiêm sau này trở thành một tu sĩ Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam. Sau lần gặp gỡ đó, Ngài có ước nguyện được theo giáo phái giống như những vị tu sĩ Lào có Tam y và Quả bát, mà ở Việt Nam lúc bấy giờ vẫn chưa có. Bởi lẽ trước nay Ngài tu theo những gì thầy tổ dạy, một giáo lý có truyền thống rất lâu đời, chịu ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa.

Khoảng cuối thập niên 30, đức Giới Nghiêm nghe tin ở Sài gòn – Gia Ðịnh có phái đoàn truyền giáo của Phật giáo Nguyên Thủy do người Việt Nam tu tập ở Campuchia mang về. Nghe tin này Ngài rất mừng, dự định là sẽ tìm gặp phái đoàn truyền giáo do Hoà thượng Hộ Tông lãnh đạo; Ngài cho các huynh đệ đồng tu biết chuyện này. Một hôm, Ngài và chín huynh đệ nữa trực chỉ hướng về Sài gòn – Gia Ðịnh để tận mắt nhìn thấy những vị chân tu theo truyền thống của Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam. Ðó là các Ngài Hoà thượng Thiện Luật, Hoà thượng Hộ Tông và Hoà thượng Huệ Nghiêm. Nhìn oai nghi tế hạnh của những vị này, Ngài nhớ đến những tu sĩ Lào mà Ngài trông thấy ở Huế gần mười năm trước. Ôi! Sao lạ thế, trông chẳng khác chút nào, quí Ngài đẹp và thanh tịnh làm sao. Ngài nghĩ thầm: “Ta đã tìm đúng giáo phái mà ta đã mơ tưởng trước đây rồi, vậy ta hãy lập tức hànhđộng”. Ngài chấp tay xá chào các vị trong phái đoàn của Hoà thượng Hộ Tông và tự giới thiệu về mình và các huynh đệ của Ngài. Trong buổi gặp gỡ hôm đó Ngài đã trao đổi rất nhiều vấn đề đạo pháp với các vị trong phái đoàn truyền giáo của Hoà thượng Hộ Tông. Hoà thượng Hộ Tông giảiđáp cho đức Giới Nghiêm những thắc mắc đã cưu mang trong lòng nhiều năm qua. Hoà thượng Hộ Tông nói: “Những thắc mắc của thầy cũng giống như những thắc mắc của tôi ngày xưa khi chưa gặp Phật giáo Nguyên Thủy”. Lời lẽ, đạo hạnh của phái đoàn truyền giáo của Hoà thượng Hộ Tông đã thu hút đức Giới Nghiêm và chín huynh đệ. Ðức Giới Nghiêm tiếp tục hỏi Hoà thượng Thiện Luật: “Chúng tôi muốn tu theo quí Ngài có được không; và thủ tục như thế nào?”.

  • Ðược. Nhưng theo giới luật, thầy phải làm giới tử 3 tháng – Hoà thượng Thiện Luật đáp.

Hoà thượng Thiện Luật hỏi các vị trong phái đoàn và trả lời tiếp:

  • Tốt hơn hết là quí thầy nên sang Campuchia làm giới tử và xuất gia ở đó, vì chúng tôi tu theo đạo Phật Nguyên Thủy không được bao lâu. Nếu quí vị đồng ý, chúng tôi sẽ giới thiệu chùa và bổn sư để quí vị tu học.

Ðức Giới Nghiêm trầm tư suy nghĩ trong giây lát và nói: “Vậy xin các Ngài hoan hỷ giới thiệu cho chúng con”.

Hoà thượng Thiện Luật đáp: “Sàdhu, Sàdhu, Sàdhu”.

Năm 1944, đức Giới Nghiêm giã từ quê hương. Tuy nhiên, trước ngày đức Giới Nghiêm rời quê hương Việt Nam sang đất nước chùa tháp Campuchia tu học chỉ còn ba huynh đệ thôi; những vị kia còn nặng nợ đời thường nên ở lại Sài gòn – Gia định. Khi sang đến Campuchia tu học chỉ còn lại một mình đức Giới Nghiêm, hai vị kia cũng bùi ngùi chia tay trở về đời thường. Nhìn những huynh đệ ra đi, Ngài rất động tâm và lấy điều đó để tự thức tỉnh cho mình.

Trên con đường tu học, dùi mài kinh sách ở đất nước chùa tháp Campuchia, đức Giới Nghiêm tinh tấn không biết mệt mỏi. Kết quả là lúc 20 giờ 20 ngày 08 tháng 3 năm 1947, đức Giới Nghiêm được thầy bổn sư cho thọ đại giới, xuất gia Tỳ kheo theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy, thầy thế độ là Hoà thượng Visuddhiransì và thầy Yết ma là Candavijìra. Trong thời gian ở Campuchia, Ngài cũng có dịp sang Thái Lan để tu học thêm.

Sau 9 năm tu học ở Campuchia và Thái Lan, Ngài quyết định trở về Việt Nam để chia xẻ hương vị pháp bảo với đồng bào trong nước, và hợp tác với các vị trong phái đoàn truyền giáo của Hoà thượng Hộ Tông để thành lập Giáo hội Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam. Vì Ngài là người Huế nên muốn đem hương vị pháp bảo này truyền bá trên quê hương của mình, trước là để đền ơn song thân giáo dưỡng, và sau là báo đáp thầy tổ đã nuôi lớn tâm hồn mình. Ðầu tiên, Ngài về thăm cha mẹ, anh em và họ hàng. Ðược biết thân mẫu đã qua đời khi Ngài còn tu học ở xứ người, nhưng gia đình đã không báo tin cho Ngài biết, vì sợ tin buồn đó sẽ chi phối việc học đạo của Ngài; Ngài nén cơn xúcđộng và giảng cho gia đình nghe về giáo lý vô thường của đạo Phật. Sau đó Ngài ghé thăm một số vị tôn đức Bắc Tông quen biết ngày trước như Ôn Trí Thủ, Ôn Châu Lâm. Gặp lại nhau sau nhiều năm xa cách, các vị hàn huyên tâm sự về đạo pháp thật nhiều. Các vị đã vấn đạo với nhau nhiều ngàyđêm. Ðức Giới Nghiêm có viết một quyển sách mỏng kể lại cuộc đối thoại lịch sử này, với nhiều đề tài như Tiểu thừa, Ðại thừa, ăn chay, ăn mặn, v.v…

Sau đó Ngài đến thăm chùa Phổ Ðà ở Ðà Nẵng, nơi Ngài được thầy truyền thọ đại giới Tỳ kheo theo truyền thống Bắc Tông. Ở đây, Ngài được mời giảng giáo lý Nguyên Thủy cho Phật tử và chư Tăng Bắc tông. Thời giảng của Ngài giúp cho chư Tăng và Phật tử có cái nhìn đúng đắn về Phật giáo truyền thống.

Ðiểm đáng nói là tại chùa Phổ Ðà này, chính là nơi manh nha để hình thành việc ra đời chùa Tam Bảo- Ðà Nẵng năm 1953 – ngôi chùa Phật giáo Nguyên Thủy đầu tiên ở miền Trung. Phật tử thấyđạo mới lạ và phong cách khả kính của đức Giới Nghiêm khiến cho họ tăng thêm lòng tín thành nơi Tam Bảo nên họ rũ nhau đến quy y và học đạo với đức Giới Nghiêm ngày càng đông. Ngoài ra, còn có nhiều vị tu sĩ trong truyền thống Bắc Tông quyết định chuyển sang tu trì theo tông phái Nguyên Thủy của đức Giới Nghiêm, điển hình như Hoà thượng Hộ Nhẫn (Tăng trưởng Phật giáo Nam Tông vừa viên tịch).

Nhờ số lượng tín đồ Phật tử ngày càng đông, người xuất gia tu học cũng khá nhiều nên ở đây đã thành lập được chùa Tam Bảo với sự hỗ trợ của Ngài Hộ Tông và Ngài Bửu Chơn v.v… Ðấy cũng là những nhân tố thuận lợi cho việc thành lập thêm chùa Tăng Quang ở Huế sau này.

3. Những điểm thuận lợi và khó khăn

Việc gì trên đời này để thành công cũng phải có cái giá của nó. Nếu thành công mà không có những khó khăn, trở ngại thì sự thành công ấy sẽ trở nên tầm thường. Việc du nhập luồng tư tưởng Phật giáo Nguyên Thủy vào cố đô Huế của Hoà thượng Giới Nghiêm là cả một quá trình nhiêu khê trong lịch sử hoằng pháp của Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam. Nguyên do là Phật giáo Nguyên Thủy rất xa lạ, mới mẻ đối với cư dân địa phương và có nhiều điểm tu học khá quan trọng tương phản với Phật giáo Bắc tông vốn có nguồn gốc lịch sử, lâu đời trên mảnh đất này. Thế nên Phật giáo Nguyên Thủy truyền bá được trên đất Huế là một thành công lớn của đức Giới Nghiêm. Chúng ta cần tìm hiểu các yếu tố thuận lợi lẫn khó khăn khi Phật giáo Nguyên Thủy được giới thiệu ở cố đô Huế.

a) Thuận lợi:

  • Vì đức Giới Nghiêm là người Huế nên sự hiện diện của Ngài trên làng quê của mình để dạy đạo cho Phật tử và thân bằng quyến thuộc theo giáo pháp Nguyên Thủy thì không có gì trở ngại đối với dân làng và chính quyền địa phương. Họ xem Ngài giống như một vị tiên thánh đã học được phép mầu linh nghiệm gì đó ở xứ người và giờ đây Ngài chia xẻ phép mầu đó cho thân quyến và Phật tử. Họ hoc rất chân thành, niềm tin kiên cố và đạo tâm vững chãi. Niềm tin đó dường như bất di bất dịch với thời gian và không gian. Ðến ngày nay con cháu của họ vẫn còn sắt son một lòng vì đạo, xem đạo Phật Nguyên Thủy như là nguồn suối đạo đức tươi mát không thể thiếu trong gia đình.
  • Vì đức Giới Nghiêm trước khi xuất gia theo Phật giáo Nguyên Thủy là một vị tỳ kheo của Phật giáo Bắc tông, có thầy tổ và huynh đệ khá đông ở Huế và Ðà Nẵng. Gặp gỡ lại huynh đệ và thầy tổ, mặc dù trong hình thức tông phái khác nhau nhưng các vị tương đối cảm thông cho nhau. Quí Ngài quan niệm vườn hoa chánh pháp phải có trăm sắc nghìn vẻ để tô điểm giáo lý của đức Từ bi, đồng thời khế hợp nhịp nhàng để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng thuộc nhiều căn cơ của đồng bào Phật tử. Nếu như quá cứng nhắc, cục bộ sẽ có nguy cơ làm cho Phật Pháp khô héo, quần chúng Phật tử không thường đến chùa hoặc bỏ đạo theo những tôn giáo khác. Chính nhờ quan niệm phóng khoáng như vậy, chư vị huynh đệ và thầy tổ của đức Giới Nghiêm ít nhiều cũng tạo điều kiện thuận lợi cho Ngài truyền bá Phật giáo Nguyên Thủy tại Huế và Ðà Nẵng. Thể hiện như vậy là không phân biệt tông phái trong đạo Phật, giúp cho người huynh đệ cùng lý tưởng trong ngôi nhà Phật giáo.

  • Vì đức Giới Nghiêm được sự hỗ trợ tinh thần lẫn vật chất của các vị Hoà thượng trong phái đoàn truyền giáo miền Nam của Hoà thượng Hộ Tông. Ðồng thời lúc bấy giờ Giáo hội Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam đã được nhà nước thời ấy công nhận, có pháp lý và pháp quyền. Ðức Giới Nghiêm cũng là thành viên trong Ban Chưởng Quản.

  • Vì Giáo lý Nguyên Thủy chỉ thẳng những điều thực tế trong cuộc đời với ngôn từ bình dị, dễ hiểu, không dùng nhiều Hán tự. Giáo lý hướng đến tinh thần tự giác, vô ngã, vị tha, lấy nhân quả làm đầu, không chấp nhận mê tín dị đoan. Lại nữa, nhân cách, phương pháp tu tập, nghi lễ của đức Giới Nghiêm và chư Tăng hoàn toàn giản dị nhưng trang nghiêm nên quần chúng rất tín mộ, đến tìm hiểu và học đạo khá đông.

b) Khó khăn:

  • Ðạo Phật Nguyên Thủy rất mới lạ ở Việt Nam nên không thể nào không có sự chống đối mãnh liệt của một số người trong các môn phái bạn cổ truyền vốn chịu ảnh hưởng sâu đậm màu sắc Trung Hoa từ xưa đến nay.
  • Tình trạng chia cắt đất nước vào năm 1954 làm giới hạn con đường hoằng pháp của đức Giới Nghiêm, ít nhiều cũng ảnh hưởng rất lớn trong việc khai mở đạo Phật Nguyên Thủy tại cố đô Huế. Chính sách kỳ thị tôn giáo dưới chế độ Ngô Ðình Diệm cũng là một yếu tố bất lợi.

  • Mặc dù vậy, đức Giới Nghiêm trong tinh thần Từ bi hỷ xả, thực hiện hạnh nhẫn nại của đạo Phật để khắc phục những khó khăn khi đối diện những thử thách lúc đạo Phật Nguyên Thủy mới chập chữngđặt nền tảng trên mảnh đất sông Hương, núi Ngự. Nhờ biện tài khôn khéo; ngoại giao, ứng xử thấu tình đạt lý nên đức Giới Nghiêm đã dễ dàng vượt qua mọi cam go, trở ngại.

    4. Ðôi nét về cuôc đời người khai sáng và các vị có công truyền bá.

    4.a) Tóm tắt tiểu sử đức Giới Nghiêm, người khai sáng Phật giáo Nguyên Thủy tại Huế.

    Hoà thượng Giới Nghiêm, thế danh Nguyễn Ðình Trấn, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921 tại Giạ Lê thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Thủy, Thành phố Huế. Con của cụ ông Nguyễn Ðình Tải (Hoà thượng Thích Quang Diệu) và cụ bà Huỳnh Thị Thành.

    Năm 1930, Ngài xuất gia Sa di tại một ngôi chùa thuộc địa phận làng Bãng Lãng, huyện Hương Trà, thành phố Huế.

    Năm 1940 (Canh Thìn), xuất gia Tỳ kheo tại chùa Phổ Ðà – Ðà Nẵng theo truyền thống Phật giáo Bắc tông.

    Năm 1947 xuất gia Tỳ kheo ở chùa Sirìsàgara tại Campuchia, Hoà thượng bổn sư là Ngài Visuddhiransì và Ngài Candavijìra là thầy Yết ma theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy.

    Hoà thượng Giới Nghiêm viên tịch ngày 13 tháng 7, Giáp Tý, tức ngày 9/8/1984 tại chùa Phật Bảo, hưởng thọ 64 tuổi (theo cách tính Âm lịch Việt Nam).

    Những điểm đáng lưu ý trong cuộc đời của Hoà thượng

    • Năm 1953, đức Giới Nghiêm xây dựng chùa Tam Bảo – Ðà Nẵng với ý định làm trụ sở Phật giáo Nguyên Thủy miền Trung.
  • Năm 1954, Ngài tham dự đại hội kết tập Tam Tạng lần thứ VI tại Miến Ðiện. Sau khi kết thúc đại hội, chư Tăng phái đoàn Việt Nam về nước, còn Ngài xin ở lại tham học thiền quán. Và Ngài là vị Tăng đầu tiên của Phật giáo Nguyên Thuỷ Việt Nam học pháp môn thiền Minh sát tuệ với Hoà thượng thiền sư Mahàsì Sayadaw tại Miến Ðiện. Chư Tăng Ni và Phật tử Việt Nam vẫn còn duy trì tu tập phương pháp này cho đến ngày nay.

  • Ngài là một trong các vị thuộc phái đoàn truyền giáo của Hoà thượng Hộ Tông đệ đơn xin chính phủ thành lập Giáo hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam, và được công nhận vào ngày 18/12/1957. Trụ sở trung ương đặt tại Kỳ Viên tự, số 610 Phan Ðình Phùng, Quận 3, Sài gòn.

  • Năm 1954 – 1959, Ngài cùng một số chư Tăng xây dựng chùa Tăng Quang. Ðây là ngôi Tam Bảo tổ đình Phật giáo Nguyên Thuỷ tại cố đô Huế.

    • Ngày 29/1/1967, đức Tăng thống Giới Nghiêm và tám thành viên trong Ban chưởng quản GHTGNTVN: Tỳ kheo Tối Thắng, Tỳ kheo Thiện Căn, Tỳ kheo Thiện Quả, Tỳ kheo Pháp Trí, Tỳ kheo Giác Quang, Tỳ kheo Ẩn Lâm, Tỳ kheo Pháp Quang, Tỳ kheo Pháp Lạc – đồng ký tên giữ vững lập trường rút GHTGNTVN ra khỏi GHPGVNTN. Ðây là một quyết định khá phức tạp, gây dư luận và bất ngờ cho các vị lãnh đạo trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Sau đó, vào ngày 31/1/1967, cuộc họp bất thường được tổ chức tại trụ sở trung ương Kỳ Viên tự. Thành phần tham dự gồm các vị lãnh đạo của Ban Chưởng quản GHTGNTVN và 16 ký giả báo chí của thủ đô Sài gòn đến phỏng vấn đức Tăng thống về lý do tại sao rút GHTGNTVN ra khỏi GHPGVNTN. Ngài trả lời:
  • “Nhận thấy có một số vị Tăng kể từ ngày tham gia GHPGVNTN giới luật không trang nghiêm. Rút ra để chỉnh đốn lại.

  • “Nhận thấy GHTGNTVN bị Phật giáo Bắc tông chèn ép thái quá. Ðiển hình là văn thư của Thượng tọa Huyền Quang gởi các cơ quan công quyền tại miền Trung để ngăn chặn việc xây dựng chùa Huệ Quang ở Bình Ðịnh, thư đề ngày 22/2/1966. Biết được văn thư đó, Giáo hội chúng tôi gởi văn thư đến Viện Tăng thống và Viện Hoá đạo nhờ can thiệp nhưng không thấy lưỡng viện phúc đáp. Do đó Giáo hội Nguyên Thủy chúng tôi quyết định rút ra khỏi GHPGVNTN.”

  • Giáo hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam thành lập tháng 12/1957 đến ngày gia nhập Giáo hội Phật giáo Việt Nam 1981 có tất cả là 11 nhiệm kỳ Tăng thống. Ðức Giới Nghiêm đã đảm nhiệm chức vụ Tăng thống liên tiếp các nhiệm kỳ 4, 5, 6, 7 (1964 – 1971) và nhiệm kỳ cuối, rồi gia nhập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, sau khi nước nhà được thống nhất. Ðây là vị Tăng Thống có uy tín được chư Tăng tín nhiệm lâu nhất trong các vị Tăng Thống của Giáo hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam.

    • Năm 1979, Ngài được Hội Phật giáo yêu nước Tp HCM và nhà nước mời tham gia phái đoàn chư Tăng Việt Nam sang Campuchia để tái truyền giới cho 8 vị sư Campuchia bị Khmer Ðỏ bắt hoàn tục. Ngài là thầy tế độ cho 8 vị đó. Ðây là nghĩa cử tôn giáo có ý nghĩa rất lớn, giúp thắt chặt tìnhđoàn kết Việt Nam và Campuchia.
  • Ngày 4/7/1981 Ðại hội đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam tổ chức tại chùa Quán Sứ, thủ đô Hà Nội, Ngài được cung thỉnh vào Hội đồng Chứng minh và đảm nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch HộiÐồng Trị Sự GHPGVN.

  • Ðức Giới Nghiêm là vị Tăng trưởng đầu tiên của Hệ phái Phật giáo Nam Tông Việt Nam kể từ ngày GHPGVN ra đời.

  • 4.b) Tóm tắt tiểu sử Hoà thượng Hộ Nhẫn.

    Hoà thượng thế danh Tôn Thất Thuế, sanh năm 1924 tại thôn Thanh Lương, xã Hương Xuân, huyện Hương Trà, Thành phố Huế. Thân phụ là cụ ông Tôn Thất Tích, thân mẫu là cụ bà Phan Thị Cưỡng.

    – Năm 1937, Ngài thi đậu bằng Primaire (Tiểu học thời Pháp thuộc).

    • Năm 1939, Ngài được cụ Tôn Thất Cổn mời làm thư ký Tôn Nhơn Phủ ở Thành Nội Huế. Tại đây, một hôm nọ, Ngài vào thư viện Hoàng gia đọc sách và đọc được quyển “Cuộc đờiÐức Phật Thích Ca”; đó là động cơ đưa Ngài đến với Chánh pháp.
  • Năm 1942, rời Miếu Ðường Hoàng gia trở về quê xin phép cha mẹ xuất gia. Lúc đầu cha mẹ không đồng ý, quyết liệt không chấp nhận hành động cho là nông nỗi của con. Sau đó biết ý chí con đã quyết, cha mẹ đành im lặng nuốt lệ để con lên đường tìmđạo. Ngôi chùa Ngài đến dừng chân học đạo bước đầu là chùa Cao Minh; chùa này không phải là chùa thuộc truyền thống Phật giáo Bắc tông thời đó. Ở đây Ngài tự tu giống như những đạo sĩ ngày xưa.

  • Năm 1945, trên đường lánh nạn binh đao (chiến tranh Pháp – Việt) Ngài gặp được chùa Vô Vi; nay là chùa Từ Nghiêm. Ở đây Ngài cũng tiếp tục khổ hạnh tu trì.

  • Năm 1947, nghe tin ở trong Huế có Ôn Châu Lâm đức độ cao, Ngài tìm đến thọ giáo. Ở đây tu học hơn 2 năm, được Ôn Châu Lâm thương mến, hướng dẫn Ngài học Kinh, Luật, chữ Hán và cho thọ giới Sa di.

  • Khoảng thập niên 50 đức Giới Nghiêm về thăm song thân ở làng Giạ Lê và sau đó có viếng thăm các vị lãnh đạo Phật giáo Huế như Ôn Trúc Lâm, Ôn Từ Ðàm, Ôn Linh Quang; đồng thời đức Giới Nghiêm có ghé thăm Ôn Châu Lâm. Nhờ vậy lần đầu tiên Ngài được nhìn thấy một vị tỳ kheo tu theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy. Phong cách uy nghi thoát tục của đức Giới Nghiêm đã tạo nên một ấn tượng tốt đẹp và sâu sắc trong tâm tư Ngài. Một định hướng mới cho lý tưởng học Phật ngày một lớn mạnh, thôi thúc. Thế là không bao lâu Ngài lặng lẽ từ giã thầy tổ, huynh đệ và những người thân thương tìm đến đức Giới Nghiêm để xin nhập môn tu hành theo Phật giáo Nguyên Thủy.

    • Năm 1952, Ngài được Hoà thượng Thiện Luật cho xuất gia Sa di tại Tam Bảo tự (bấy giờ mới chỉ là cái thất lợp lá chia thành 4 phòng). Và cũng trong năm này Ngài được sang Miến Ðiện dự Hội Nghị Phật giáo thế giới lần thứ III; sau đó được ở lại để dự đại hội kết tập Tam Tạng Thánh Ðiển Pàli lần thứ VI tại Rangoon. Vào lúc 9 giờ 30 ngày 29 tháng 12 năm 1955, Ngài được Hoà thượng Pokokku Sayadaw và Hoà thượng Yết ma Nandàvasa cho thọ đại giới tại chùa Sirìmangalà, Miến Ðiện.

    Những điểm đáng lưu ý trong cuộc đời của Hoà thượng

    • Mặc dù còn Sa di nhưng được các vị trong phái đoàn Việt Nam cho tháp tùng đến thủ đô MiếnÐiện để tham dự kỳ kết tập kinh điển lần thứ sáu.
  • Ngài là người Việt Nam thứ hai được học thiền quán Minh sát tuệ với Hoà thượng thiền sư Mahàsì Sayadaw. Khi về Việt Nam Ngài vẫn áp dụng tu hành và hướng dẫn Tăng Ni, Phật tử tu thiền Minh sát tuệ.

  • Từ ngày xuất gia cho đến lúc viên tịch Ngài là vị thiền sư nuôi mạng bằng hạnh trì bình khất thực và chỉ thọ dụng Tam y. Hai pháp môn đầu đà này có hai tác dụng: vừa tu tập cho chính mình vừa nhắc nhở cho Tăng Ni về đời sống thanh cao của hạnh khất thực, tri túc.

    • Năm 1958, Ngài được Giáo hội đề cử về trụ trì chùa Tăng Quang, Huế.
  • Năm 1966, Ngài thành lập Thiền Lâm tự và kiến tạo bảo tháp Xá lợi. Ngôi Tam Bảo này tồn tại cho đến ngày hôm nay.

  • Năm 1998, Ngài được Giáo hội suy tôn vào Hội Ðồng Chứng Minh và đảm nhiệm chức vụ Phó Chủ Tịch HÐTS GHPGVN.

  • Ngài là vị Tăng trưởng đời thứ ba của Phật giáo Nam Tông Việt Nam kể từ ngày thành lập GHPGVN.

    Tuy hằng ngày người ta chỉ thấy Ngài tham thiền và trì bình khất thực vào buổi sáng; một việc làm bình thường nhưng đối với bậc xuất gia rất hiếm người thực hiện được thường xuyên, do vậy ý nghĩa và ảnh hưởng tốt đẹp do công hạnh này đối với Tăng Ni, Phật tử các giới vô cùng lớn lao.

    4.c) Tóm tắt tiểu sử Thượng tọa Viên Minh

    Thượng tọa thế danh Nguyễn Hữu Tặng, sinh ngày 10/2/1945 tại Ðạo Ðầu, Triệu Phong, QuảngTrị. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Hữu Xướng, thân mẫu là cụ bà Pham thị Quy.

    Xuất gia năm 1964; thọ giới Sa di năm 1964; thọ giới Tỳ kheo lúc 16 giờ 30 ngày 28/11/1965 tại trụ sở trung ương Kỳ Viên tự. Ðức Giới Nghiêm là Hoà thượng bổn sư và là thầy thế độ. Thượng tọa Sirìcando và Thượng tọa Duyên Hạnh là hai vị thầy Yết ma.

    Những điểm đáng lưu ý

    • Năm 1973, Thượng tọa đại diện Giáo hội sáng lập chùa Huyền Không ở Lăng Cô, huyện Phú Lộc, tỉnh Thành phố Huế. Ngôi Tam Bảo này là tiền thân của Huyền Không Sơn Thượng, Huyền Không Sơn Trung và Huyền Không Sơn Hạ.
  • Năm 1976, Thượng tọa là Tổng thư ký Giáo hội Tăng Già Nguyên Thuỷ Việt Nam.

  • Năm 1976, Thượng tọa trụ trì Kỳ Viên Tự, trụ sở trung ương Giáo hội Tăng Già Nguyên Thuỷ Việt Nam.

  • Năm1990, Thượng tọa trụ trì Tổ đình Bửu Long. Nơi đây Thượng tọa đào tạo Tăng Ni cho Giáo hội.

  • Năm 1998, Thượng tọa kiến tạo thêm thiền viện Viên Không, núi Dinh, Bà Rịa – Vũng Tàu.

  • Thượng tọa đã sáng tác một số tác phẩm như sau: Tuyển tập thư Thầy, Con đường Hạnh phúc, Vi Tiếu rất có giá trị và giúp ích cho chư Tăng và Phật tử Việt Nam.

    4.d) Thượng tọa Ðịnh Lực

    Thượng tọa thế danh Vũ Quang Vinh, sinh ngày 24/11/1930 tại Quảng Ngãi. Song thân là cụ ông Vũ Ðình Thư và cụ bà Phạm Thị Ðăng.

    Xuất gia năm 1972; thọ giới Sa di năm 1972; thọ giới Tỳ kheo vào lúc 10 giờ ngày 5/5/1974 tại Thiền Lâm tự – Huế. Ðức Hộ Nhẫn là Hoà thượng bổn sư và là thầy thế độ, Ðại đức Giới Hỷ là thầy Yết ma.

    Những điểm đáng lưu ý

    Từ năm 1979 đến nay Thượng tọa trụ trì tổ đình Tăng Quang, hướng dẫn Tăng Ni và Phật tử tu hành theo Phật giáo Nguyên Thủy.

    Mặc dù bận Phật sự và tuổi cao sức yếu nhưng Thượng tọa vẫn làm thơ và trước tác một số tác phẩm rất hữu ích: Nguồn sáng vô tận, Cẩm nang y dược, Dẫn lối về nguồn, Hoa đạo, Vườn thơ ý đạo, Tạ từ.

    Ðặc biệt nhất là quyển “Dẫn lối về nguồn”, đây là công trình sưu tập pháp của Thượng tọa sau mấy mươi năm học đạo. Sách trình bày dưới dạng hỏi đáp. Lời văn khúc chiết, gẫy gọn và côđọng.

    4.e) Tóm tắt tiểu sử Thượng tọa Giới Ðức

    Thượng tọa thế danh Nguyễn Duy Kha sinh ngày 19/7/1944 tại Giạ Lê thượng, Hương Thuỷ, Thành phố Huế. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Duy Hoan và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Sừng.

    Xuất gia năm 1973; thọ giới Sa di năm 1973, thọ giới Tỳ kheo lúc 9 giờ 58 phút, ngày 17/2/1977 tại Tam Bảo tự – Ðà Nẵng. Ðức Giới Nghiêm là bổn sư và là Hoà thượng thế độ. Ðại đức Giới Hỷ là thầy Yết ma.

    Những điểm đáng lưu ý

    – Thượng tọa là nhà thơ có tên tuổi ở đất thần kinh. Ðã xuất bản nhiều tập thơ: Chèo vỡ sông trăng, Ðá trắng chiêm bao, Lửa lạnh non thiêng, Tình mẹ – mùa báo hiếu, …

    • Là nhà văn rất nổi tiếng trong giới Phật giáo; những tác phẩm của Thượng tọa chẳng những có giá trị trong đạo mà còn đóng góp không nhỏ cho nền văn chương của dân tộc Việt Nam như:Người trồng hoa và chàng tu sĩ, Kinh lời vàng (phổ thơ Kinh Pháp cú), Ngàn xưa hương Bối, Một cuộc đời – một ngôi sao, Chuyện cửa thiền, Hành hương tâm linh …
  • Từ năm 1976 đến năm 1989, Thượng tọa trụ trì chùa Huyền Không. Trong thời gian này Thượng tọa vận động hiệp hội Schmitz thông qua Phật tử tại Ðức xây cầu Bạch Yến giúp đồng bào địa phương. Ðây là một công tác xã hội vô cùng có ý nghĩa.

  • Từ năm 1989 đến nay. Thượng tọa trụ trì Huyền Không Sơn Thượng. Tại cơ sở mới này Thượng tọa tiếp tục sáng tác thơ văn và góp phần đào tạo Tăng tài cho Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam.

  • 4.f) Thượng tọa Hộ Tịnh

    Thượng tọa thế danh Hồ Ngọc Tịnh. Sinh năm 1945 tại Thế Chí tây, Phong Ðiền, Thành phố Huế. Song thân là cụ ông Hồ Ngọc Sách và cụ bà Nguyễn Thị Con.

    Xuất gia năm 1965; thọ giới Sa di năm 1967; thọ giới Tỳ kheo vào lúc 9 giờ 45 phút ngày 24/6/1979 tại trụ sở trung ương Kỳ Viên tự. Ðức Ẩn Lâm là Hoà thượng thế độ và Thượng tọa Siêu Việt, Thượng tọa Pháp Tuệ là thầy Yết ma.

    Những điểm đáng lưu ý

    Hiện nay Thượng tọa là giám tự chùa Thiền Lâm.

    • Sống chung với Hoà thượng Hộ Nhẫn nhiều năm bằng hạnh ẩn cư thiền định. Do nếp sống độc cư trên núi nên chư Tăng và Phật tử ít biết đến Thượng tọa. Nhưng với đời sống trầm lặng như thế, Thượng tọa đã giới thiệu một bài học vô ngôn, một tấm gương sáng ngời cho thế hệ mai sau.
  • Mặc dù bệnh tật thường xuyên gây chướng ngại cho bản thân và thích sống trầm lặng, nhưng sau khi Hoà thượng bổn sư (đức Tăng trưởng Hộ Nhẫn) viên tịch, Thượng tọa đã theo lời mời của chư Tăng tại Huế, đứng ra đảm trách Phật sự đa đoan tại Thiền Lâm tự.

  • 4.g) Thượng tọa Pháp Tông

    Thượng tọa thế danh Nguyễn Văn Thông, sinh ngày 10/3/1957 tại Hải Lăng, Quảng Trị. Song thân là cụ ông Nguyễn Văn Thụy và cụ bà Nguyễn Thị Quyến.

    Xuất gia năm 1971; thọ giới Sa di năm 1973; thọ giới Tỳ kheo vào lúc 10 giờ, ngày 24/6/1979 tại trụ sở trung ương Kỳ Viên tự. Ðức Ẩn Lâm là Hoà thượng thế độ và Thượng tọa Siêu Việt, Thượng tọa Pháp Tuệ là hai vị thầy Yết ma.

    Những điểm đáng lưu ý

    • Từ năm 1989 đến nay là trụ trì chùa Huyền Không – Ngôi Tam Bảo này từ năm 1998 – 2002 là văn phòng của Hệ phái Nam Tông và cũng là nơi đào tạo Tăng tài cho Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam hiện nay.
  • Tháng 3 năm 1993 Thượng tọa khởi xướng đại trùng tu Phật điện. Nhờ sự hỗ trợ nhiệt thành của Tăng Ni Phật tử xa gần, nhất là sự giúp đỡ của Hoà thượng Pháp Nhẫn, Thượng tọa Viên Minh, sư cô Trí Hạnh nên tới tháng 3 năm 1995 Phật sự viên thành. Lễ khánh thành và kiết giới Sìmà dược tổ chức trọng thể suốt ba ngày dưới sự chứng minh của Hoà thượng Hộ Nhẫn, Hoà thượng Danh Nhưỡng và 56 vị Tỳ kheo Phật giáo Nguyên Thủy. Ngoài ra còn có hơn 80 Tăng Ni Bắc tông, hơn 20 Sa di Nam Tông và trên 1000 Phật tử các giới tham dự.

  • Thượng tọa là Chánh văn phòng, trợ lý thứ nhất cho Hoà thượng Hộ Nhẫn, Phó chủ Tịch HĐTS – GHPGVN kiêm Tăng trưởng Hệ phái Nam Tông, uỷ viên Ban Trị sự Phật giáo Thành phố Huế, là người tổ chức và điều hành các Phật sự trọng yếu của Phật giáo Nam Tông tại Thành phố Huế.

  • 4.h) Thượng tọa Tuệ Tâm

    Thượng tọa thế danh Quách Cà, sinh ngày 15/8/1956 tại khu phố Phú Hiệp, thành phố Huế. Song thân là cụ ông Quách Sỏ và cụ bà Trần Thị Cháu.

    Xuất gia năm 1974; thọ giới Sa di năm 1974; thọ giới Tỳ kheo vào lúc 10 giờ 15 phút, ngày 24/6/1979 tại trụ sở trung ương Kỳ Viên tự. Ðức Ẩn Lâm là Hoà thượng thế độ và Thượng tọa Siêu Việt, Thượng tọa Pháp Tuệ là hai vị thầy Yết ma.

    Những điểm đáng lưu ý

    – Thượng tọa là uỷ viên Ban trị sự tỉnh hội Phật giáo Thành phố Huế.

    • Mặc dù là nhà sư Nam Tông nhưng Thượng tọa vẫn tham gia rất tích cực trong Tuệ Tĩnh đường Diệu Ðế. Bàn tay của Thượng tọa đã cứu giúp biết bao nhiêu bệnh nhân khỏi chứng bệnh hiểm nghèo. Tuy là thầy thuốc nhưng Thượng tọa đã khéo léo truyền bá giáo lý của nhà Phật bằng con đường chữa bệnh cứu người hiện thực và hữu hiệu. Rất nhiều Phật tử ở những tôn giáo khác đã biết được Phật giáo Nguyên Thủy qua những lần gặp gỡ Thượng tọa bắt mạch và hốt thuốc.

    4.i) Tóm tắt tiểu sử Ðại đức Giới Hỷ

    Ðại đức thế danh Nguyễn Tấn Bạn, sinh ngày 16/7/1941 tại Bình Ðào, Thăng Bình, Quảng Nam.

    Thọ giới Tỳ kheo lần đầu lúc 18 giờ ngày 15/3/1963 tại chùa Tam Bảo – Ðà Nẵng. Hoà thượng Giới Nghiêm là bổn sư và là thầy thế độ, Thượng tọa Hộ Giác và Thượng tọa Dũng Chí là hai vị thầy Yết ma.

    Những điểm đáng lưu ý

    • Thập niên 60, Ðại đức đại diện Giáo hội để hoằng pháp tại chùa Tăng Quang. Ở đây ngoài việc hướng dẫn Tăng Ni, Phật tử tu hành theo giáo lý Nguyên thuỷ, Ðại đức còn tích cực hoạt động từ thiện xã hội như: giúp đỡ những người già neo đơn, cứu trợ đồng bào bị thiên tai lũ lụt.
  • Ðại đức có công đại trùng tu ngôi chánh điện Tăng Quang tự và kiến tạo Bảo tháp tôn thờ Xá lợiđức Phật Thích Ca, xây dựng một trường Bồ Ðề cho học sinh cấp I.

  • Mặc dù là tu sĩ nhưng Ðại đức cũng tham gia hoạt động cách mạng.

  • Ðại đức làm thầy Yết ma cho nhiều vị sư của Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam.

  • Vì hoàn cảnh gia đình và cuộc sống, năm 1979 Ðại đức hoàn tục; và năm 1996 xuất gia trở lại. Hiện nay Ðại đức là phó ban đại diện huyện và uỷ viên Ban trị sự tỉnh Quảng Nam kiêm trụ trì chùa Giác Viên.

  • Ngoài ra còn có rất nhiều vị Tăng đóng góp công sức cho Phật giáo Nguyên Thuỷ ở Huế từ giaiđoạn hình thành đến phát triển, nhưng không được đề cập đến là vì không có sự liên tục. Có rất nhiều vị xuất thân từ Huế nhưng khi trưởng thành thì định cư ở hải ngoại hoặc các tỉnh khác nhưÐồng Nai, Sài gòn. Ðiều đó rất hay nhưng nếu tất cả đều như vậy thì Phật giáo Nam Tông ở Huế sẽđi về đâu? Ðiển hình như Phật giáo Nam Tông ở Quảng Ngãi, Ðà Lạt, Nha Trang.

    Ðiều đáng trân trọng là những vị Hoà thượng, Thượng tọa có tên ở trên gắn bó rất mật thiết với Phật giáo Nguyên Thủy tại Huế. Nhờ sự hiện diện của các vị này nên Phật giáo Nguyên Thủy có thế đứng vững chãi và tương đối có tầm cỡ tại thành phố Huế.

    5. Những Thiện Nam Và Tín Nữ Hộ Trì Tam Bảo Ðầu Tiên

    Thiện nam và tín nữ là hai thành phần quan trọng của hàng Tứ chúng trong Phật giáo. Ðạo Phật được truyền bá sâu rộng hay không là nhờ sự hỗ trợ của hai thành phần này. Nếu thiếu hai thành phần thì chẳng khác nào ao sen ở giữa rừng hoang, không có người thưởng thức.

    Do đó việc du nhập Phật giáo Nguyên Thủy vào cố đô Huế được thành công là do công đức rất lớn của những thiện nam và tín nữ hộ trì Tam Bảo đầu tiên để đức Giới Nghiêm hoàn thành sứ mạng thiêng liêng cao cả của mình đối với Phật giáo Nguyên Thủy tại đất thần kinh. Trong số thiện nam và tín nữ đầu tiên hộ trì Tam Bảo của Phật giáo Nguyên Thủy tại Huế có ông Nguyễn Thiện Ðông và bà Nguyễn Thị Cúc. Hai ông bà này rất giàu có ở Huế lúc bấy giờ. Khi gặp đức Giới Nghiêm, nghe Ngài giảng về Phật Pháp, hai ông bà chiêm nghiệm về cuộc đời mình đã trải qua: lúc thăng, lúc trầm, buồn vui lẫn lộn của kiếp nhân sinh. Hai người nhận rõ được yếu tố vô thường tạm bợ của thế gian và tự thực chứng lời dạy của Ðức Phật ngày xưa mà ngày nay đức Giới Nghiêm giảng dạy lại cho mình, sao quá gần gũi, thực tế, sống động nên đã đánh thức nỗi niềm tâm tư của ông bà. Từ đó, hai ông bà tự phát tâm tín thành Tam Bảo và nguyện trọn đời quy y và hộ trì Tam Bảo.

    Lúc bấy giờ, ở Huế có Tăng mà không có Tự, nên ông Thiện Ðông và bà Cúc xin phép đức Giới Nghiêm cho thành lập một ngôi chùa Phật giáo Nguyên Thủy ở Huế để chư Tăng có nơi tu hành và Phật tử có nơi lễ bái cúng dường. Ðức Giới Nghiêm nhận thấy lời đề nghị của ông Thiện Ðông và bà Cúc rất hay và hợp thời nên đồng ý chấp nhận. Kể từ hôm ấy, ông Thiện Ðông và bà Cúc đứng ra vận động tài chánh của bà con thân thuộc và bạn hữu của mình để mua căn nha số 1/1 đường Võ Tánh, Huế và thành lập ngôi chùa đầu tiên của Phật giáo Nguyên Thủy tại Huế, tức chùa Tăng Quang ngày nay.

    Khi chùa thành lập xong, đức Giới Nghiêm muốn Phật giáo Nguyên Thủy phát triển mạnh mẽ nên chỉ thị Ðại đức Giới Hỷ thành lập Ban quản trị chùa Tăng Quang để hàng cư sĩ có đủ pháp lý cùng chư Tăng hộ trì Tam Bảo và hoằng dương Chánh Pháp. Từ đó, ông Sắc, ông Ðinh và ông cụ Ðồng thay phiên nhau làm Chánh và Phó hội trưởng.

    Ðồng thời trong chiều hướng phát triển, những Phật tử có đức tin kiên cố của chùa Tăng Quang như: bà Thông Lang, ông bà Tùng, ông bà Bê, chú Tuyên, chú Tề, ông bà Mãi, bà Cháu, cô Bảy, bà Phúc, bà Nghè Hai, cô Lớn v.v… và thường trực đến hỗ trợ chùa Tăng Quang và tiếp tay với Ðạiđức Giới Hỷ đại trùng tu ngôi chánh điện; kiến tạo thêm một bảo tháp để tôn thờ Xá lợi và xây một dãy trường Bồ Ðề cho học sinh cấp I.

    Chính nhờ Thiện nam Nguyễn Thiện Ðông và Tín nữ Nguyễn Thị Cúc và quí ông bà có tên vừa nêu trên làm nền móng vững chắc mà chùa Tăng Quang được kiến tạo nên. Và chính nhờ cơ sở đó, Phật giáo Nguyên Thủy có nơi bám trụ và phát triển cho đến ngày hôm nay tại Thành phố Huế.

    II. NHỮNG NGÔI CHÙA Ở HUẾ

    1. Chùa Tăng Quang

    Chùa Tăng Quang, tên tiếng Pàli: Sangharànsyaràma; dân địa phương thường gọi là “chùa Áo Vàng”,địa chỉ hiện nay là 1/1 đường Nguyễn Chí Thanh, phường Phú Hiệp, Thành phố Huế. Tại vùng này, ngày xưa có một địa điểm gọi là “Hồ Ông Mười” mà ngày nay được cải tạo thành trường PTTH Gia Hội. Năm 1954, Hoà thượng Giới Nghiêm, ông Nguyễn Thiện Ðông và bà Nguyễn thị Cúc là những người chủ trương xây dựng.

    Theo Thượng tọa Ðịnh Lực cho biết, chùa Tăng Quang được xây đựng năm 1954 với hình thức cải gia vi tự – mua lại nhà cũ, sửa chữađôi chút cho phù hợp để làm thành chùa. Ðại diện thí chủ dâng cúng là ông Nguyễn Thiện Ðông và bà Nguyễn Thị Cúc; Hoà thượng Giới Nghiêm đại diện chư Tăng chứng minh.

    Năm 1959, chùa được xây dựng lại với mô hình kiến trúc tân kỳ, không giống như hình thức lúc ban đầu – chỉ là hình thức cải gia vi tự, tạm thời có địa điểm để chư Tăng cư ngụ hành đạo và hoằng pháp. Ngày khánh thành có sự chứng minh của Hoà thượng Hộ Tông, Hoà thượng Bửu Chơn, Hoà thượng Thiện Luật cùng với hơn 60 vị tỳ kheo từ miền Nam ra tham dự.

    Năm 1963, Ðại đức Giới Hỷ cùng với Phật tử chùa Tăng Quang thực hiện chương trình đại trùng tu Tăng Quang tự, bao gồm ngôi chánh điện và toà bảo tháp. Các cơ sởđó tồn tại cho đến ngày hôm nay.

    Kiến trúc chùa trong thời kỳ đầu (1954) không có gì đặc biệt vì đó chỉ là một ngôi nhà lá đơn sơ với vài ba liêu thất để chư Tăng hành đạo.

    Sang thời kỳ thứ nhì (1959), chùa được xây dựng và kiết giới Sìmà theo truyền thống của Phật giáo Nguyên Thủy. Chánh điện thờ Phật tuy không lớn nhưng đường nét kiến trúc hoàn toàn khác biệt với những ngôi chùa ở xứ Huế ngày đó. Lối kiến trúc này mô phỏng theo kiến trúc của Campuchia và Thái Lan – vì đức Giới Nghiêm từng tu học tại hai quốc gia này nên có lẽ ảnh hưởng sự chỉ đạo của Ngài. Và có thể do thiếu tài liệu tham khảo và chưa quen với mô típ kiến trúc và họa tiết trang trí chùa tháp của Thái – Miên nên những người thợ xây đựng thời ấy chưa thể hiện được nghệ thuật độc đáo, tinh xảo của mô típ kiến trúc này.

    Thời kỳ thứ ba (1963) là thời kỳ xây dựng Tăng Quang tự tương đối hoàn chỉnh; và hiện trạng ấy gần như tồn tại cho đến ngày hôm nay. Các công trình xây dựng trong chùa gồm: chánh điện, bảo tháp, Tăng xá, nhà khách, trai đường và linh đường. Chánh điện và bảo tháp được kiến tạo chung một địa điểm.

    Chánh điện ở tầng trệt, bảo tháp được xây ở trên và nằm về phía mặt tiền của chánh điện. Trong chánh điện tôn thờ tượng Phật Thích Ca, là nơi chư Tăng và Phật tử hành lễ hằng ngày. Bảo tháp dùng để tôn trí ngọc Xá lợi của Ðức Phật. Từ bên ngoài nhìn vào chánh điện, khách thập phương sẽ nhận ra vẻ tôn nghiêm, thanh tịnh và trầm hùng – phần nào là nhờ vào dáng dấp uy nghi vời vợi của ngôi bảo tháp. Bảo tháp hình vuông có 6 tầng mái, nổi bật trên nền trời với biểu tượng đoá sen xoè cánh trên đỉnh. Mặt tiền của tầng tháp đắp nổi dòng chữ SANGHARANSYARÀMA (Tăng Quang Tự) theo hình bán nguyệt. Phía dưới dòng chữ là phù điêu Ðức Phật ngồi thiền định, bên trái khỉ chúa dâng quả, bên phải có bạch tượng quỳ hầu. Mảng phù điêu này thể hiện câu chuyện Ðức Phật khuyên dạy các thầy Tỳ kheo ở thành Kosambi không được nên Ngài lặng lẽ vào rừng nhập hạ mà không có một vị Tỳ kheo nào theo hầu cả. Trong thời gian nhập hạ ở núi rừng chỉ có khỉ và voi là thị giả Ngài mà thôi. Dưới hình Ðức Phật có dòng chữ: Theravàda (Phật giáo Nguyên Thủy) nằm ngay trên chánh môn của Phật điện.

    Trong chánh điện chỉ tôn thờ duy nhất kim thân Phật Thích Ca; có một pháp toạ để pháp sư giảng pháp và hai tủ Tam Tạng Thánh điển Pàli tiếng Thái. Phía trái chánh điện là Tăng xá hai tầng mới được xây dựng lại vào năm 2000 – 2001, khi dãy nhà cũ dùng làm Tăng xá bị hư hỏng nghiêm trọng sau trận lũ 1999.Sau lưng Tăng xá là nhà khách; trai đường ở sau chánh điện; linh đường nằm ở bên phải. Ngoại trừ chính điện, các công trình còn lại xây cất bình thường để đáp ứng nhu cầu sử dụng.

    Cho đến nay chùa đã trải qua những đời trụ trì:

    Hoà thượng Giới Nghiêm.
    Hoà thượng Ẩn Lâm
    Hoà thượng Hộ Nhẫn
    Ðại đức Giới Hỷ
    Thượng tọa 
    Ðịnh Lực

    2. Chùa Thiền Lâm

    Chùa Thiền Lâm được thành lập năm 1960 bởi Hoà thượng Hộ Nhẫn. Thoạt kỳ thủy vào năm 1958, Giáo hội đề cử Ngài từ Tam Bảo về trụ trì chùa Tăng Quang; nhưng sau một thời gian ngắn Ngài nhận thấy hạnh độc cư thiền định, đầu đà Tam y Nhất bát nuôi mạng bằng khất thực không thích hợp ở đây, nên vào năm 1960 Ngài xin phép Giáo hội rời chùa Tăng Quang đến thôn Thượng II, xã Thuỷ Xuân, dựng một liêu thất nhỏ ở ngọn đồi gần nhà máy nước Quảng Tế để tu hành. Thời đó người ta gọi Ngài là “ông sư chùa Cốc”. Nay chùa toạ lạc tại thôn Thượng II, xã Thuỷ Xuân, Thành phố Huế.

    Năm 1966, nhờ đức độ tu hành của Ngài khiến một số đông Phật tử khởi tín tâm cúng dường nên tháp thờ Xá lợi Phật và chính điện (ở tầng dưới) được kiến tạo.

    Ðến viếng chùa Thiền Lâm, trước khi vào khuôn viên chùa, tại ngã ba dưới chân đồi Quảng Tế (vị trí nhà máy nước Quảng Tế) khách thập phương sẽ trông thấy một pho tượng “Thế Tôn khất thực” cao khoảng 8 mét, rất uy nghiêm và từ ái. Bảo tượng này gợi nhớ lại hình bóng Thế Tôn cách đây hơn 25 thế kỷ – một đời Thế Tôn trì bình khất thực để nuôi mạng và hoá độ chúng sinh. Tấm gương sáng của Ðấng Ðại Giác từ thuở xa xưa ấy được Hoà thượng Hộ Nhẫn hành trì từ khi mới xuất gia cho đến lúc viên tịch! Ðáng mừng thay là sau khi Ngài ra đi, chư Tăng đệ tử Ngài tại Thiền Lâm vẫn đang tiếp tục kế thừa pháp hạnh thanh cao này. Từ tượng trì bình tới khuôn viên chùa khách thập phương phải vượt qua khoảng đường 300 mét về phía trái đồi Quảng Tế.

    Trên đường vào khuôn viên chùa du khách sẽ nhìn thấy bảo tượng Thế Tôn Niết Bàn nằm ở phía bên trái. Bảo tượng này được tôn trí trên nền đàn bê tông ba cấp, dài khoảng hơn 7 mét, ẩn hiện giữa rừng thông và dương liễu. Dáng nằm và gương mặt của bảo tượng thể hiện được vẻ an lạc giải thoát của Ðức Thế Tôn. Chính từ hai tôn tượng này mà đồng bào Phật tử và cư dân ở Huế gọi chùa Thiền Lâm là “chùa Phật đứng – Phật nằm”.

    Vào trước khuôn viên chùa, ngay dưới chân đồi, phía bên trái, xuất hiện trước mặt du khách là bảo tượng Ðức Phật toạ thiền, quay mặt về hướng Ðông. Tượng và toà sen cao 5,2 mét, tôn trí trên bảođài 3 tầng cao 9 mét.

    Vào đến chùa, tận cùng khuôn viên ở bên trái là ngôi bảo tháp màu trắng cao vút, uy nghi mà thanh thoát giữa nền trời. Bảo tháp có 2 phần: Tầng dưới là chánh điện; tầng trên tôn trí Xá lợi Phật Thích Ca và chư Thánh Tăng. Bố cục tháp phía dưới hình tròn cắt cạnh trước và sau. Phần sau nối thêm hậu điện để thờ Phật và chỗ chư Tăng hành lễ (được xây nối thêm vào năm 1973 – 1974). Phía trên tháp có dáng hình chuông úp với đỉnh nhọn, được trang trí bằng một số phù điêu, hoa văn giản dị. Dáng dấp bảo tháp được mô phỏng theo kiểu chùa Sirimagalà ở Myanmar – nơi Hoà thượng Hộ Nhẫn thọ đại giới nhưng đơn giản hơn nhiều. Tổng chiều cao khoảng 15m. Trong nội điện, tầng dưới tôn thờ tượng Ðức Phật Thích Ca cao 1,6m trên bảo toạ cao hơn 2m. Chung quanh tường chánhđiện trưng bày một số tranh vẽ về cuộc đời Ðức Phật Thích Ca và một số chuyện tiền thân. Một đại hồng chung nặng cỡ 7 tạ đặt ở tay trái. Cách bảo tháp khoảng 10m về hướng đông là cổng tam quan không mái có biển đắp nổi dòng chữ: SAMÀDHIVARAVIHÀRA và tên chùa bằng tiếng Việt: Thiền Lâm tự. Ngay sau lưng chánh điện là thiền thất của Hoà thượng và phòng khách (nay làm nơi thờ phụng y bát, di ảnh Hoà thượng). Tiếp đó là một dãy Tăng xá nhỏ được xây cất, chắp nối thêm từ năm 1965 tới 1994. Một dãy Tăng xá mới được xây dựng vào năm 1998 – 1999 nằm về hướng Tây. Trai đường và cũng là linh đường nằm giáp góc của hai dãy Tăng xá.

    Ðiểm thu hút khách thập phương và Phật tử các giới là nơi đây có phong cảnh u tịch, thoáng mát, nhiều cây cao bóng cả, là môi trường sinh thái rất tốt. Ở đây, không khí trong lành, tĩnh lặng rất phù hợp cho những bậc chân tu dừng chân để hành đạo và xiển dương Giáo pháp. Du khách đến đây tham quan, viếng chùa lễ Phật được hưởng không khí an lành, có thể quên đi những tháng ngày mệt nhọc và phiền não.

    Sau khi Hoà thượng Hộ Nhẫn viên tịch, người đứng ra đảm nhiệm công việc giám tự hiện nay và trụ trì tương lai là Thượng tọa Hộ Tịnh. Ngôi Tam Bảo này mới chỉ có một đời trụ trì là Hoà thượng Hộ Nhẫn.

    Ngoài ra, dưới chân đồi Phật Niết Bàn về phía đông còn có một tịnh thất tu nữ (tịnh thất Gotamì) gồm một chánh điện nhỏ, một dãy ni xá 5 phòng và 2 thiền thất xây cất đơn giản, là nơi hành đạo của các sư cô Nam Tông, đệ tử Hoà thượng Hộ Nhẫn.

    Phật giáo Nam tông ở Cố đô Huế

    3. Chùa Huyền Không

    Chùa Huyền Không hiện nay là hậu thân của chùa Huyền Không ở Lăng Cô, Phú Lộc, bên chân đèo Hải Vân được Thượng tọa Viên Minh, sư Tịnh Pháp, sư Trí Thâm và sư Tấn Căn xây dựng vào năm 1973. Do hoàn cảnh đổi thay, vào năm 1978, chùa Huyền Không được dời về thôn Nham Biều, Hương Hồ, Hương Trà, TP Huế và tồn tại cho đến ngày hôm nay. Diện tích chuà khoảng hơn 6000 m2.

    Ðây là ngôi chùa Phật giáo Nam Tông khá nổi tiếng ở cố đô Huế từ cuối thập niên 1980. Vào viếng chùa, khách thập phương phải qua cầu Bạch Yến. Chiếc cầu này chư Tăng Huyền Không xin tài trợ của Hiệp hội Schmitz – Tây Ðức xây dựng nên, để nhân dân địa phương và du khách đến chùa đi lại thuận tiện.

    Qua cầu, rẽ về trái khoảng 100m du khách sẽ thấy cổng chùa cao lớn, đắp nổi dòng đại tự CHÙA HUYỀN KHÔNG. Sân chùa lát gạch, rộng, thoáng mát. Nhìn vào chánh điện, lồ lộ một bức hoành phi sơn son thiếp vàng treo trên chánh môn, điêu khắc nổi hàng chữ Pàli: ABHISUNNÀTÀRÀMA. Chánh điện có diện tích 12m x 24m, cao khoảng 8 – 9 mét, lợp ngói măng âm – dương; đường nét mạnh mà không thô, trầm hùng và uy nghiêm. Hoạ tiết đơn giản mà cổ kính, tôn trí duy nhất một tượng Phật Thích Ca màu vỏ trứng sẫm, vẻ mặt thanh thoát và từ ái, tay phải đưa lên, tay trái đặt trên lòng bàn chân – với tư thế này Ðức Phật như đang đàm đạo cùng các đệ tử. Dáng dấp tượng có đường nét tương tự mô típ tượng của các xứ Phật giáo Nam Tông nhưng tính dân tộc và nhân bảnđược thể hiện rất cao. Bảo tượng cao 1,54m, đặt trên toà sen cao 1,5m. Một bảo lan bằng bê tông giả gỗ phân cách phần thờ phụng và lễ bái của Phật tử tạo nên một không gian trang nghiêm, tôn kính. Chánh điện trang trí đơn giản, thanh tịnh và trong sáng. Phật tử vào lễ Phật trong khung cảnh đó sẽ cảm thấy tâm hồn mình thảnh thơi, lắng dịu. Khi nghe lời kinh của chư Tăng lại càng hoan hỷ hơn, vì âm điệu kinh Pàli vang vọng nhẹ nhàng, trầm bổng ngân nga như tiếng sóng biển dội vào bờ từngđợt, từng đợt.

    Bên phải sân Phật điện là khu vườn cảnh bố cục tự nhiên có tên là Thanh Tâm viên: giữa những đồi cỏ lúp xúp có năm ba gốc dương liễu cổ kính, xương xẩu, tàn lá xanh rì, dăm bảy cụm lạc thạch là những lối mòn quanh co lát đá. Một mái lương đình ngói đỏ thấp thoáng sau mấy gốc hoa sứ lão trượng, cội thiên tuế tuổi tác gần thế kỷ, cặp thạch đăng xứ Phù Tang xa xôi biểu tượng thanh kiếm, chiếc khiên của một võ tướng Samurai qui phục cửa Thiền đang ngày đêm nghiêng mình soi bóng xuống mặt nước của Hàm Nguyệt Trì.

    Bên hông phải Phật điện là một kiến trúc thu hút sự chú ý của khách thập phương: Yên Hà Các. Vẻđẹp của toà nhà này nằm ở các điểm: đường nét nhẹ nhàng, uyển chuyển; nhiều tầng mái; kết hợp nhuần nhuyễn hai loại vật liệu: bê tông và gỗ, mà đỉnh cao là các bộ cửa gỗ nhiều kiểu cách trang trí. Công trình này được xây dựng vào các năm 1999 – 2000, thay thế cho toà gác gỗ, mái tranh, vách nứa giàu tính nghệ thuật dân gian đã hư hỏng nhiều sau 15 năm tồn tại. Tầng trệt của toà nhà là phòng khách và phòng trụ trì; tầng trên dành tiếp khách Tăng lưu trú.

    Khu vườn cảnh Hứa Nhất Thiên nối tiếp Yên Hà Các là nơi trưng bày các chậu bonsai; cạnh đó là giàn phong lan với hơn 500 giò lan nhiều chủng loại. Nổi bật trên mặt hồ nhỏ giữa vườn là chiếc phù kiều sắc đá xám, nơi du khách thích dừng chân chụp ảnh lưu niệm.

    Bên trái Phật điện là nhà khách, tăng xá, nhà học… cũ kỹ, tạm bợ. Tương lai sẽ được xây dựng lại để đáp ứng nhu cầu ăn ở, sinh hoạt của Tăng chúng ngày càng đông và hoà hợp hơn với kiến trúc của chính điện và Yên Hà Các.

    Ðây cũng là Phật học viện của Phật giáo Nam Tông tại Thành phố Huế.

    Chùa đã trải qua những đời trụ trì:

    Thượng tọa Viên Minh (1973 -1975)
    Thượng tọa Giới Ðức (1975 – 1989)
    Thượng tọa Pháp Tông (1989 tới nay).

    4. Huyền Không Sơn Thượng

    Huyền Không Sơn Thượng do Thượng tọa Giới Ðức thành lập năm 1989, toạ lac dưới chân núi Hòn Vượn ở vùng Chầm thuộc sơn phận xã Hương Hồ, giáp với xã Hương An.

    Phong cảnh chùa giàu chất thiên nhiên, nhiều vẻ đẹp hoang dãđược chọn lọc nhờ bàn tay khéo léo con người. Thơ mộng và tịch liêu rất thích hợp với mẫu người của Thượng tọa Giới Ðức. Tại đây Thượng tọa đã cho ra đời rất nhiều bài thơ hay và những cuốn sách có giá trị về Phật học, văn chương, nghệ thuật. Phải chăng nhờ cảnh núi rừng hùng vĩ, môi trường thiên nhiên trong lành và mát mẻ đã góp phần hun đúc nên các tác phẩm bất hủ ấy?

    Ðến viếng chùa du khách phải vượt qua nhiều quãng đường lênđồi xuống dốc mà hai bên là cảnh núi rừng thiên nhiên, tiếng suối chảy rì rào, sim, mua, tràm, chổi,… ẩn hiện theo mùa, qua rừng tùng ngút ngàn, những cụm cổ thạch rêu phong, những bài thơ trên đá v.v…và Ở đây Thượng tọa đã kiến tạo được một chánh điện giản dị bằng gỗ, mái tranh trông rất hiền hoà và thanh thoát.

    Bên phải chánh điện với mấy cụm tre vàng thơ mộng là “Am mây tía” (tiền thân là Phong Trúc Am,được xây dựng từ năm 1992). Bên trái chánh điện là “Quá Thiện Ðường” (nhà ăn), “Chúng Hoà Ðường” (nhà sinh hoạt). Phía trước chánh điện khoảng hơn 100m, bên phải có hai dãy Tăng xá và nhà học là “Tuệ Học Ðường”. Ở đây có một vườn ươm cây kiểng đủ loại kích cỡ 40m x 50m. Phía đối diện là vườn ươm lan rộng 20m x 30m, có khoảng trên dưới 1000 giò. Hướng Tây Nam có một mõm núi, có cây cổ thụ mọc cheo leo trên đá, tên là “Ðộc Thụ Sơn”. Mấy dãy núi đối diện Thượng tọa trồng 5 – 6 vạn cây thông và đặt tên là “Vạn Tùng Sơn”. Huyền Không Sơn Thượng toạ lạc trên một vùng rừng 56 ha do Nhà Nước giao đất, giao rừng từ năm 1989. Hiện tại ở đây có khoảng trên 20 vị sư và chúng điệu là Tăng sinh Phật học viện Huyền Không.

    5. Chùa Ðịnh Quang

    Cách trung tâm thành phố Huế khoảng 8 km về phía Nam, toạ lạc tại thôn Giạ Lê, xã Thuỷ Phương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Chùa do Hoà thượng Giới Nghiêm và các Phật tử trong chi hội Phật giáo Nguyên Thủy mua đất xây dựng vào năm 1962. Chánh điện là toà nhà xây dọc, kích thước 5,5m x 12m, nền cao gần 1m, xây bằng gạch ciment, lợp ngói. Trải qua gần 40 năm không được tu bổ nay đã hư hại nhiều. Nội điện chỉ thờ một bảo tượng Ðức Phật trên bệ thờ ba cấp như các ngôi chùa do đức Giới Nghiêm sáng lập. Trước đây chùa còn có một dãy Tăng xá 3 phòng và căn bếp nhỏ ở bên phải (từ ngoài nhìn vào) nhưng nay đã bị gỡ bỏ.

    Ðây là ngôi chùa từ khi thành lập tới gần đây không có trụ trì. Việc quản lý, phụng thờ do chi bộ Phật giáo Nguyên Thủy Giạ Lê đảm trách. Vào giữa năm 2002, do hầu hết các hội viên đã già nua, tuổi tác, lực bất tòng tâm nên các cụ đã làm đơn xin bàn giao cơ sở này cho đức Tăng trưởng Hộ Nhẫn và văn phòng Hệ phái. Văn phòng Hệ phái Nam Tông đã tiến hành thủ tục đăng ký tên chùa vào danh bộ chùa chiền của tỉnh giáo hội, trình các ban ngành chức năng của chính quyền. Sắp tới chư Tăng Nam Tông tại Huế sẽ đề cử nhân sự về quản lý ngôi Tam Bảo này.

    6. Chùa Pháp Luân

    Toạ lạc tại số 29 Lê Quý Ðôn, thành phố Huế. Do Ðại đức Giới Hỷ, thay mặt đức Tăng thống Giới Nghiêm và Giáo hội Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam cùng ông bà Nguyễn Thiện Ðông và Nguyễn thị Cúc quyên góp, cúng dường tịnh tài mua lại công thổ của chính quyền đương thời lập chùa vào năm 1967. Do tình hình cuộc chiến căng thẳng trong giai đoạn ấy nên chưa thể xây dựng quy mô, mà chỉ mới cất được một dãy nhà cấp 4, lợp tôle thờ Phật và để chư Tăng ở coi sóc vào năm 1974. Sau năm 1975 do chính sách đất đai thay đổi, diện tích đất chùa bị lấn chiếm nhưng nhà chùa không thể làm gì được. Mãi tới năm1994, sau khi luật đất đai được ban hành, chư Tăng Nam Tông tại Huế, dưới sự lãnh đạo của Hoà thượng Hộ Nhẫn đã gởi đơn kiến nghị các cấp chính quyền để đòi lại quyền quản lý, sở hữu. Mặt khác, kế hoạch phát triển, quy hoạch đô thị của thành phố cũng làm cho diện tích còn lại của chùa bị thu hẹp.

    Năm 2000, giáo hội đã có công văn bổ nhiệm Thượng tọa Tuệ Tâm làm trụ trì ngôi Tam Bảo này (trước đây chùa chưa có trụ trì). Thượng tọa dự định sẽ xây dựng chính điện và cơ sở khám chữa bệnh từ thiện tại đây trong các năm sắp tới.

    III. ÐÓNG GÓP CỦA PHẬT GIÁO NAM TÔNG

    Phật giáo Nam tông du nhập vào Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua. Tuy có lúc mạnh lúc yếu nhưng tính thuần tuý và trong sáng thì chưa bị yếu tố thăng trầm xáo trộn. Nếu so sánh sự phát triển với Phật giáo Bắc tông thì sự phát triển của Phật giáo Nam tông tương đối còn khiêm tốn. Dù vậy, sự đóng góp của Phật giáo Nam tông đối với nền văn hoá và xã hội Việt Nam nói chung và ngôi nhà Giáo hội Phật giáo Việt Nam nói riêng có nhiều thành tựu đáng kể.

    1. Nghi thức

    Tôn giáo gắn liền với nghi thức. Nghi thức Phật giáo Nam tông đơn giản nhưng không kém phần trang trọng và tôn nghiêm. Sở dĩ đơn giản là vì nghi thức Nam tông dựa vào truyền thống kinh điển Nguyên Thủy, gần gũi và trung thành với đời sống Ðức Phật lúc Ngài còn tại thế. Thông thường, trong nghi thức Phật giáo Nam tông không có chuông trống, lễ nhạc, ngân nga tán tụng. Khi Phật tử cúng dường, chư Tăng có đôi lời động viên, khích lệ Phật tử tu hành tinh tấn, trau dồi phước thiện, làm lành lánh dữ, lấy nhân quả làm gốc. Sau đó chư Tăng tụng kinh phúc chúc, và Phật tử hồi hướng phước báu.

    Ðạo Phật dựa trên nền tảng nhân quả, nghiệp báo, luân hồi cho nên nghi thức Nam tông thườngđược thực hiện để người sống trông thấy, nghe hiểu và thực hành Giáo lý từ bi và trí tuệ của đạo Phật, không giống như những tôn giáo khác, dựa vào nghi thức tôn giáo của mình để trưng bày, phô diễn hình thức, vừa nặng về tín ngưỡng vừa dễ pha trộn các màu sắc mê tín, dị đoan. Ðạo Phật Nam tông đến để mà thấy chứ không phải đến để mà tin. Do đó, nghi thức Nam tông không có cúng cô hồn, chẩn tế, xem ngày xấu, ngày tốt. Với một Phật tử Nam tông thuần thành thì ngày nào làm lành lánh dữ thì ngày đó là ngày tốt, bằng không thì ngược lại.

    Nghi thức Nam tông Việt Nam thường tụng kinh song ngữ Pàli – Việt. Ðây là một nghi thức đặc thù của truyền thống của Phật giáo Nam tông trên thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng. Ða số những khoá lễ chính: công phu sáng, chiều; cầu an; cầu siêu; trai tăng v.v… và đều cử hành thống nhất nhau, mặc dù khác quốc gia.

    Kinh điển Pàli, y phục tu sĩ, tuyên ngôn, kết giới Sìmà v.v… và của các nước Phật giáo Nam tông đều nhất quán. Ðược như vậy là vì quí Ngài y cứ theo Tam Tạng để tu hành, chứ không y cứ theo sự chếđịnh của chư tổ. Nếu các Ngài căn cứ theo chư tổ thì Phật giáo Nam tông khó gìn giữ sự trong sáng và thống nhất cho đến ngày nay.

    Sự hiện diện của Phật giáo Nam tông tại Huế do vậy, về mặt nghi lễ, đã góp phần mới mẻ và phong phú thêm cho sinh hoạt tín ngưỡng của Phật giáo Việt Nam tại cố đô Huế.

    2. Lễ hội

    Lễ hội Phật giáo Nam tông thường căn cứ trên kinh điển và lịch sử cuộc đời, lịch sử hoằng pháp của đức Tôn sư. Do đó, Phật giáo Nam tông có một số lễ hội không thấy có trong truyền thống Phật giáo Bắc tông. Tuy nhiên, điều đó không có gì mâu thuẫn, mà trái lại, làm phong phú thêm hình thức lễ hội của Phật giáo. Phật giáo Nam tông mỗi năm có bốn lễ hội chính vào các ngày: rằm tháng giêng, rằm tháng tư, rằm tháng sáu, và lễ hội Dâng y từ 16/9/ÂL – 15/10/ÂL.

    Rằm tháng giêng có hai ý nghĩa chính. Thứ nhất, kỷ niệm đại hội Thánh Tăng gồm có 1250 vị Alahán Ehi Bhikkhu, cùng tụ hội về Trúc Lâm tịnh xá, dưới sự chủ toạ của Ðức Phật. Thứ hai, để tưởng niệm vào năm Ðức Phật 80 tuổi, Ngài tuyên hứa và khẳng định với Ma vương trong ba tháng nữa Ngài sẽ lên đường tịch diệt.

    Rằm tháng tư là ngày đại lễ Tam Hợp (kỷ niệm ba sự kiện trong đời Ðức Phật xảy ra cùng một ngày, khác năm): Bồ tát đản sanh, Ðức Phật thành đạo và Ðức Phật Niết Bàn. Ngày xưa, trước thập niên 1950, Phật giáo Bắc tông xem ngày mồng tám tháng tư là ngày đản sanh của Ðức Phật Thích Ca, nhưng về sau, thống nhất với Phật giáo Thế giới và Phật giáo Nam tông ở Việt Nam, đã quyết định chọn ngày rằm là ngày khánh đản của Ðức Phật.

    Rằm tháng 6 có nhiều ý nghĩa như sau: Bồ tát giáng trần, Bồ tát xuất gia, Ðức Phật chuyển pháp luân, Ðức Phật dùng thần thông chinh phục ngoại đạo và lên cung trời Ðao Lợi thuyết tạng Vi Diệu Phápđể độ Phật mẫu. Ðồng thời, ngày này cũng là ngày khởi điểm mùa An cư kiết hạ của chư Tăng Nam tông.

    Rằm tháng 9 là ngày Tự tứ và sau đó là mùa lễ dâng y Kathina kéo dài một tháng theo truyền thống Phật giáo Nam tông.

    Các lễ hội rằm tháng giêng, tháng tư, tháng sáu được tổ chức cả ngày lẫn đêm. Ban ngày Phật tử đến cúng dường trai Tăng, hoặc chùa có tổ chức lễ đặt Bát hội. Vào ban đêm, Phật tử và chư Tăng phát nguyện thọ hạnh đầu đà, ngăn oai nghi nằm để cúng dường đức Bổn sư. Chương trình có nhiều tiết mục: thuyết pháp, luận đạo, hành thiền, chiêm bái Xá lợi v.v… và nhằm để chư Tăng và Phật tử ôn lại cuộc đời và đạo nghiệp của đức Bổn sư; và cũng để tự nhắc nhở với lòng mình không dễ duôi với Chánh pháp.

    Lễ hội Dâng y tổ chức theo từng chùa. Trong một tháng, từ ngày 16/9/ÂL – 15/10/ÂL mỗi chùa chọn một ngày thích hợp để tổ chức dâng y Kathina cúng dường y phục đến Tăng già.

    Tại cố đô Huế vào ngày rằm tháng 2 mỗi năm, chùa Huyền Không đều tổ chức lễ hội Huyền Không, quy tụ chư Tăng và Phật tử Phật giáo Nguyên Thủy rất đông. Lễ hội này biểu trưng tinh thần đoàn kết trong nội bộ Phật giáo Nam tông tại Huế. Lễ hội được tổ chức như vậy nhằm triển khai những kế hoạch Phật sự trong năm, đánh giá những ưu khuyết điểm trong công việc.

    3. Xã hội

    Ðường hướng tu tập và hành hoá của Phật giáo Nam tông tại Việt Nam nói chung và tại Huế nói riêng trong gần nửa thế kỷ qua chú trọng gìn giữ giới luật, học giáo pháp theo Tam Tạng Pàli và hành thiền. Riêng Phật giáo Nam tông tại Huế, từ thập niên 80 đến nay đã đóng góp cho xã hội nhiều mặt tích cực và khả quan. điển hình như Thượng tọa Tuệ Tâm, từ các năm đầu của thập kỷ 80 của thế kỷ 20, đã cùng một nhóm Phật tử thành lập phòng thuốc Ðông y từ thiện, làm nền tảng cho Tuệ Tĩnhđường Diệu Ðế được xây dựng hơn 10 năm sau, đã phát thuốc, chẩn bệnh cứu giúp đông bào nghèo, người già yếu, bệnh hoạn ở địa phương và nhiều bệnh nhân trong và ngoài nước. Thường xuyên mở lớp đào tạo y sinh kế thừa, mở lớp dạy thể dục dưỡng sinh, tư vấn phòng bệnh AIDS. Thượng tọa Giới Ðức vào các năm 1989, 1990, 1991 đã vận động xây dựng được cây cầu Bạch Yến trị giá hơn 70 ngàn Mỹ kim để giúp cư dân địa phương đi lại không bị cách trở trong mùa mưa lũ.

    Sau cơn lũ lịch sử năm 1999 tại miền Trung, Thượng tọa Viên Minh, Giới Ðức, Pháp Tông, Tuệ Tâmđã nhiệt tình kêu gọi Phật tử trong và ngoài nước tổ chức cứu trợ kịp thời cho đồng bào gặp thiên tai và còn rất nhiều công tác xã hội, văn hoá khác nữa.

    Thượng tọa Giới Ðức, Pháp Tông và Tuệ Tâm đã kết hợp với nhau để làm những công tác từ thiện xã hội như đóng góp tiền tài để làm đường sá, cầu cống, xây dựng trường mẫu giáo, phát học bổng hằng quí cho con em nghèo hiếu học trong vùng. Khoản hỗ trợ này có năm lên đến 200 em.

    4. Văn hoá

    Phật giáo Nam tông du nhập vào cố đô Huế chưa được nửa thế kỷ nên ảnh hưởng văn hoá của Phật giáo Nam tông chưa lan toả rộng lớn trong cộng đồng quần chúng ở tỉnh Thừa Thiên – Huế – một vùng đất có truyền thống Phật giáo Bắc tông lâu đời; mặc dù vậy, xét trên bình diện giao thoa văn hoá, văn chương và văn học Phật giáo, có thể nói là đã khẳng định được vị trí vững chắc và có xu thế phát triển khả quan trong tương lai. Xin được dẫn chứng: Giáo lý Nam tông là Giáo Lý Nguyên Thủy; rất gần gũi và trung thành với lời Phật dạy. Có thể nói là chưa bị pha tạp như những bộ phái khác, nặng tính chất huyền bí, siêu hình và thiên về lý luận. Sự xuất hiện của Giáo lý Phật giáo Nam tông tại Huế rất cần thiết cho Tăng Ni và Phật tử các giới có thêm hiểu biết về hệ thống kinh điển Pàli mà từ trước đến nay ít được nghe biết đến. Ðóng góp này làm giàu thêm Ðại tạng kinh Việt Nam.

    Sự có mặt của Phật giáo Nam tông giới thiệu cho người dân Huế hình thức Tăng sĩ Tam y, Nhất bát có rất lâu đời trong truyền thống Phật giáo, được truyền từ thời Ðức Phật quá khứ cho đến Ðức Phật Thích Ca. Mà Phật giáo Bắc tông ở Việt Nam do ảnh hưởng Phật giáo Trung Hoa đã không còn bảo lưu đúng mức được. Hình ảnh y vàng, đầu trần chân đất ôm bát khất thực của chư Tăng Nam tông trên các nẻo đường từ thành thị tới thôn quê làm sống lại bóng hình Ðức Phật và chư Tăng hàng ngàn năm trước, và đã thổi một luồng sinh khí mới vào giới học Phật ở Huế, làm nảy sinh vô số hạt giống Bồ đề trong lòng người dân Huế.

    Phạn ngữ Pàli là một trong bốn thứ ngôn ngữ cổ chuyển tải kinh điển Phật giáo. Nghiên cứu Phật giáo mà không biết Phạn ngữ Pàli là một thiếu sót rất lớn đối với người học Phật hay nghiên cứu Phật giáo. Sự xuất hiện của Phật giáo Nam tông cùng với hệ kinh văn Pàli tất yếu sẽ lôi cuốn được giới nghiên cứu Phật học và các giới Phật tử có khuynh hướng tìm hiểu và học hỏi thêm về loại ngôn ngữ Phật học này. Ngoài ra, một số trước tác, biên soạn, sáng tác về kinh pháp hoặc văn, thơ của Thượng tọa Viên Minh, Thượng tọa Ðịnh Lực, Thượng tọa Giới Ðức đã đóng góp rất lớn vào tiếng nói của Phật giáo Nguyên Thủy cố đô Huế. Tiếng vang và trọng lượng của các tác phẩm này là điều có thể kiểm chứng được. Như vậy, về lãnh vực văn hoá, Phật giáo Nam tông cố đô Huế đã có chỗđứng vững vàng, không chỉ trong cương giới đất thần kinh mà còn có lan ra cả nước.

    5. Nghệ thuật kiến trúc

    Phật giáo Nam Tông du nhập vào Huế với số năm tương đối khiêm tốn. Do bị ảnh hưởng chính sách kỳ thị tôn giáo của gia đình Ngô triều, chiến tranh loạn lạc nhiều năm, kinh tế xã hội một thời trì trệ nên phát triển chậm. Các ngôi chùa tại Huế trải qua các giai đoạn lịch sử, xã hội của đất nước tất yếu cũng mang dấu ấn của thời đại; tuy vậy, tính đặc thù của mỗi chùa có thể nhìn thấy qua hình thức kiến trúc và nghệ thuật trang trí, bố cục không gian nội và ngoại điện. Bốn ngôi chùa sau đây thể hiện bốn mô thức kiến trúc khác nhau:

    a. Chùa Tăng Quang: Nếu lấy chính điện (điện thờ Phật) làm trung tâm khảo sát một ngôi chùa thì toà Phật điện tại Tăng Quang tự là một công trình thể hiện rõ nét mô típ chùa chiền Thái và CampuchiaTuy nhiên, như phần trước đã có đề cập, có lẽ do chưa nắm bắt được kiểu dáng và hoạ tiết, hoa văn trang trí chùa tháp Thái – Campuchia nên những người thợ xây dựng nên toà Phật điện – bảo tháp này đã không phô bày được vẻ đẹp tinh tế, sắc sảo của loại hình kiến trúc này từ màu sắc tới đường nét. Ðiểm gây chú ý cho khách thập phương khi nhìn thấy công trình xây dựng này là độ cao của toà tháp, kiểu dáng và sắc vàng phủ trùm lên toàn bộ toà tháp và Phật điện. Có thể dễ dàng nhận ra đây là ngôi chùa Phật giáo Nam tông.

    b. Chùa Thiền Lâm: Nằm trên điểm cao nhất của một ngọn đồi, xung quanh là các triền dốc thấp nên toà Phật điện – bảo tháp Thiền Lâm nổi bật trên nền trời giữa một không gian xanh màu lá, mộ chíSắc trắng tinh khiết là màu chủ đạo của công trình xây dựng này. Toàn bộ Phật điện – bảo tháp này lấy mẫu từ chùa Primàgalà tại Rangoon, Myanmar thu nhỏ lại. Tuy nhiên, cũng do không nắm bắtđược nghệ thuật trang trí, hoa văn, hoạ tiết của xứ chùa tháp nên những người thợ xây dựng chùa đã không thể hiện được nét đẹp cầu kỳ, tinh xảo, hài hoà của mô típ này. Vật liệu làm cửa và kiểu dáng cửa bộc lộ rõ khả năng tài chính eo hẹp và khả năng hạn chế của những người xây cất. Ðiểm tạođược sự chú ý của khách thập phương vẫn là tầm cao, kiểu dáng lạ so với các chùa Phật giáo Bắc tông

    c. Chùa Huyền Không: khác với hai ngôi chùa trên – đậm nét phong cách kiến trúc Thái – Campuchia – Myanmar. Phật điện và Yên Hà các của chùa Huyền Không là hai công trình phảng phất nét kiến trúc của Trung Quốc, Nhật, Hàn quốc và cung đình HuếSự khác biệt là ở bố cục, không gian nội điện và nghệ thuật xử lý vật liệu, trang trí. Các chùa, đền, miếu theo mô típ xây dựng của các nước nói trên và cung đình Huế thường bố cục toàn bộ khối nhà theo chiều ngang, mái tiếp mái; ở đây, tiền đường vẫn được đặt theo chiều ngang nhưng bái đường thờ Phật lại nằm dọc, với hành lang có mái vây quanh tạo thành một khối kiến trúc khép kín, thông thoáng.

    Nội điện bài trí đơn giản, trang nghiêm mà thanh thoát: ngay dưới toà sen Ðức Phật là bộ hương án lớn gồm 9 chiếc kỷ gỗ nhỏ theo mô típ hương án Thái nhưng không sơn son thếp vàng, được chạm trổ chấm phá mô thức dây lá cách điệu. Một bộ hương án nhỏ hơn đặt phía trước gian hành lễ của chư Tăng, tạo một khoảng cách vừa phải với phần bái đường của Phật tử. Tường vách nội điện sơn màu vỏ trứng, không treo hình ảnh trang trí như ở một số chùa Nam Tông khác. Tường phía ngoài màu lam nhạt tạo cho du khách cảm giác êm dịu, trầm lắng và làm nổi bật hai dãy cột tròn sắc nâuđậm, bóng lưỡng. Ngoại trừ các bộ cửa lớn nhỏ, xà gồ, rui, lách bằng gỗ thật, kỳ dư, kèo, cột, xuyên, xà của toàn bộ khối nhà là bê tông giả gỗ sắc cánh dán, tinh vi như gỗ thực. Mái đao, hai đầu nóc, quyết trang trí rồng và hồi văn cách điệu, nét mạnh, sắc. Cửa sổ gian thờ Phật và gian thờ linh bố trí bốn bức phù điêu đắp lộng biểu tượng tứ linh: long, lân, quy, phụng với hai game màu xanh lam, trắng và cặp rồng cách điệu mây giả đá là các điểm trang trí đậm nét văn hoá cung đình Huế.

    Nếu ý đồ kiến trúc một ngôi Phật điện nhằm thể hiện các ý tưởng: sử dụng vật liệu hiện đại (bê tông, cốt thép) nhưng khi thành hình lại mang dáng dấp cổ kính, hài hoà với đường nét kiến trúc chùa chiền của cố đô, mà lại không quá cầu kỳ, tỷ mẳn. Bố cục, bài trí, màu sắc trang nghiêm mà nhã đạm để phù hợp với tinh thần Phật học Nguyên Thủy ban sơ: trong sáng, tự nhiên, chưa nặng màu sắc tôn giáo, tín ngưỡng thì có thể nói toà Phật điện này là một thể nghiệm khá thành công theo đánh giá của nhiều nhà chuyên môn về kiến trúc và khách thập phương.

    d. Huyền Không sơn thượng: Tựa lưng vào chân núi có độ cao 309m (so với mực nước biển) ngút ngàn thông xanh, mặt hướng ra Ðộc Thụ sơn – như tấm bình phong của ngoại Minh đường, Phật điện Huyền Không sơn thượng toạ lạc tại vị trí gần như là trung tâm của sơn lũng này. Tả Thanh long có một triền đồi thoai thoải và chấm dứt bởi con đường xuất nhập sơn khẩu. Hữu Bạch hổ là một núi cao, liền khối với núi mẹ, um tùm cây rừng nguyên sinh đang phục hồi. Tính dân dã, nghệ sĩ và gần gũi thiên nhiên của Phật điện Huyền Không sơn thượng được nhận thấy rất rõ qua kiến trúc và cách bài trí nội điện, trang hoàng ngoại điện.

    Từ ngoài nhìn vào, nếu khách thập phương có chút kiến thức về các kiểu nhà dân gian ở Huế, Quảng Trị sẽ lập tức nhận ra ngay đây là kiểu nhà vuông (còn gọi là kiểu nhà bánh ú) được nới rộng hàng hiên. Toàn bộ cột kèo, tường vách, cửa đi, cửa sổ đều được làm bằng gỗ; mái lợp cỏ tranh. Do kết cấu căn bản của kiểu nhà này có nhiều cột nên có lẽ vì vậy mà người thiết kế đã khéo léo dùng kính ốp tất cả cửa đi, cửa sổ để tạo thông thoáng và thêm ánh sáng cho nội điện. Ngôi điện này có chiều dài khoảng 10m, chiều ngang cũng tương đương như vậy.

    Gian giữa nội điện tôn trí bảo tượng Ðức Phật bằng đá sa thạch lam cao 0,8m (kể cả toà sen). Dưới chân toà sen có thêm tượng Phật đồng Thái Lan. Lư hương, giá đèn đều bằng đá cẩm thạch, vân tử chu sa.

    Phía trên bảo tượng và hào quang thiết trí một kệ thờ Xá lợi Ðức Phật và chư Thánh Tăng. Trên vách của hai gian bên treo hai bức tự hoạ quốc ngữ khổ lớn, nét mạnh, sắc, tiêu sái – thủ bút của Thượng tọa Giới Ðức. Nền lát gạch đất nung màu mận chín già hoà hợp với màu gỗ cột, kèo, tường vách tạo nên một không gian ấm cúng, thân mật.

    Khiêm nhường về tầm vóc và bề thế so với Phật điện các chùa trên song điểm lôi cuốn du khách ở đây là vây quanh ngôi Phật điện bé nhỏ, đơn sơ này cả một không gian thiên nhiên xanh màu lá, sắc dáng hoa cỏ đủ loại, hương thơm phảng phất xa gần của nhiều thứ thảo mộc vô danh lẫn hữu danh. Những giò phong lan rực rỡ phất phơ trên đầu những chậu cây cảnh, cây thế quanh chái hiên. Những cội mai già, tùng, bách… thấp thoáng sau mấy cụm giả sơn rải rác đây đó. Và tiếng róc rách của dòng tiểu khê lượn quanh am Mây Tía thỉnh thoảng lọt vào tai du khách giữa không gian trầm lắng mênh mông của núi rừng.

    IV. KẾT LUẬN

    Phật giáo Nguyên thủy – Nam tông – du nhập xứ Huế gần nửa thế kỷ qua là một thành công lớn của phái đoàn truyền giáo của Hòa thượng Hộ Tông, đặc biệt là đức Giới Nghiêm.

    Sự hiện của Phật giáo Nam tông ở đây là một luồng sinh khí mới cho Phật giáo Việt Nam, và đãđóng góp rất nhiều trong các công tác hoằng pháp và Phật sự tại địa phương.

    Thành quả đó chính là do công sức của đức Giới Nghiêm đã trải qua nhiều năm tháng chu du học đạo ở xứ người. Khi về nước, Ngài đem hết tâm huyết của mình để mở đạo tại quê nhà. Mặc dù gặp vô vàn những chướng duyên, nhưng với tinh thần vị tha vô ngã, ngài khắc phục tất cả, đem về ánh đạo huy hoàng từ đó cho đến ngày hôm nay.

    Người mở đạo quả thật xứng đáng và tôn vinh mãi mãi. Tuy nhiên, Ðạo Phật Nguyên thủy sáng vàđẹp cho đến ngày hôm nay cũng là do công lao của những vị đệ tử của Hòa thượng Giới Nghiêm kế thừa, phát huy một cách thiết thực và có hiệu quả.

    Mong rằng truyền thống kế thừa và phát huy của Phật giáo Nam tông tại cố đô Huế sẽ được tiếp nối với những vị Tăng và Ni trẻ hiện đang du học ở xứ người để phát huy Phật giáo Nam tông trong tương lai, noi gương đức Giới Nghiêm du học xứ người và khi trở về đã đóng góp tích cực và hiệu quả trong công cuộc quảng bá Phật giáo Nguyên thủy tại địa phương.

    Mùa An Cư Kiết hạ, PL 2546
    ngày14 tháng 9 n
    ăm 2002
    Tỳ kheo Thiện Minh

    PHỤ LỤC

    I. Những Giai Thoại

    1. Chuyện Trong Chùa Ngoài Phố

    Một buổi chiều hôm ấy, sau giờ công phu chiều, đức Giới Nghiêm tiếp một nữ Phật tử viếng chùa, lễ Phật. Cô là người chưa phải là Phật tử thuần thành nhưng đến viếng chùa lễ Phật với ý niệm cầu mong để thoát khỏi một điều gì bất hạnh đến với gia đình của cô. Cô tiếp chuyện với đức Giới Nghiêm lần đầu tiên nên chưa dám tiết lộ điều bất hạnh trong gia đình của cô. Cô chỉ hỏi đức Giới Nghiêm một số vấn đề sau:

    • Thưa Thầy, tại sao thầy đi tu lúc còn quá trẻ?
    • Ðể cuộc đàm đạo thân mật và có ý nghĩa, theo Phật giáo Nguyên thủy, Cô hãy gọi tôi là Sư để khỏi lầm lẫn bên phái Bắc Tông, và sư sẽ gọi Cô là Tín nữ.

    • Cám ơn sư đã chỉ dạy, Tín nữ nói.

    • Sư đi tu là vì lý tưởng riêng của sư. Nói cho dễ hiểu đó là duyên nghiệp. Nhiều khi muốn cũng không được. Chứ theo Phật giáo, tuổi nào đi tu cũng tốt, nhưng tuổi trẻ thì càng tốt hơn. Tuy nhiên ở Việt Nam, thường quan niệm, đi tu là thất tình hay bị thua thiệt ngoài xã hội. Ở những nước gần chúng ta như Thái Lan, Camphuchia thì thanh niên phải đi tu một lần trong đời như là một nghĩa vụ. Thanh niên nào không thực hiện như vậy, người ta cho rằng thiếu đạo đức.

    • Bạch sư, con đã hiểu ý của Sư nói. Thời gian không có nhiều vì trời đã khuya, con xin hỏi Sư một câu cuối. Khi lầm lỗi, sám hối có hết tội hay không? Người khác đã làm mình đau khổ thì mình phải hành xử với họ như thế nào?

    • Tín nữ thân mến, Sám hối nghĩa là ăn năn lỗi lầm đã qua và nguyện không tiếp tục hành động nữa. Như vậy sám hối cũng có nghĩa là không hết tội nhưng nghĩa cử đó giúp cho tâm hồn chúng ta được thanh thản và bình yên, đồng thời phục thiện trong tương lai. Như thế, nghĩa cử sám hối cần phải được phát huy trước ngôi Tam Bảo. Giống như ngoài đời khi lầm lỗi, ông bà mình thường khuyên mình nên xin lỗi với người mà mình đã phạm lỗi.

    Ðạo Phật là đạo Từ bi hỷ xả. Hận thù hay ganh ghét không thể dùng hận thù ganh ghét đối trị mà phải dùng tình thương và sự hiểu biết. Trong cuộc đời, điều gì cũng có nguyên nhân của nó chứ không cóđiều gì xảy đến ngẫu nhiên đâu, Tín nữ ạ! Có điều chúng ta không thông cảm được là vì chúng ta chưa hiểu thấu được hết tiền kiếp và cội nguồn của cuộc sống này. Thế nên chúng ta cho rằng điều bất hạnh xảy đến, chúng ta kết luận là đời bất công, và dùng mọi thế lực để đối phó lại. Và cứ thế khổ đau vô tận.

    Tín nữ, theo Phật giáo muốn giải quyết vấn đề bất hạnh của mình trước hết hãy sử dụng tinh thần từ bi và bao dung. Ðừng quá cố chấp điều này đúng, điều kia sai. Cũng đừng quá tin theo truyền thống.Ðúng hay sai là một nghệ thuật sống. Ðúng là đúng với ai, sai là sai với ai. Ví dụ, theo văn hóa của Trung Hoa, anh em không được lấy nhau, nếu lấy nhau phạm tội loạn luân. Như vậy Thái tử Sĩ Ðạt Ta lấy Da Du Ðà La làm vợ thì chúng ta nghĩ thế nào?

    Ðêm đã khuya tín nữ xá chào đức Giới Nghiêm với gương mặt tươi vui và xin kiếu từ.

    Tín nữ ra về với tâm hồn hân hoan. Một câu trả lời của đức Giới Nghiêm, lời văn đơn giản, tình lý mộc mạc, nhưng đã giải quyết tất cả nội tình uẩn khúc trong gia đình của Cô.

    2. Chuyện Nhà Sư Và Chiếc Bình Bát

    Thông thường, chư Tăng Phật giáo Nam tông vào buổi sáng đi bát hóa duyên, để Phật tử cúng dường thức ăn và tứ sự cho chư Tăng dùng bữa ngày hôm đó. Hình thức đi như vậy cũng là cách giảng đạo để tiếp độ Phật tử quy y Tam Bảo. Thường khi đi bát Phật tử cúng dường bánh mì,đường, sữa, gạo, muối và thức ăn chay, vì quan niệm Phật tử ở đây chịu ảnh hưởng Phật giáo Bắc tông v.v… và tuy nhiên hôm đó chư Tăng đi bát gặp Phật tử Nam tông cúng dường thức ăn mặn (xôi và thịt quay), chư Tăng thọ lãnh thực phẩm và tiếp tục việc khất thực. Bỗng nhiên một tín nữ trông thấy những nhà sư trì bình khất thực, đối với cô đây là một hình thức rất lạ, vì đạo Phật của cô đang theo không có hình thức như thế này. Vì quý trọng người tu nên cô đến gần để thành kính cúng dường mỗi Thầy một bao thư tiền. Vị tăng trưởng đi đầu không nhận bao thư và nói:

    • Này tín nữ! Bần đạo không nhận tiền chỉ nhận thức ăn thôi.

    Cô tín nữ hiểu ý và nhanh chân rẽ qua đường mua bánh mì và chuối đến cúng dường chư Tăng. Khi để thức ăn vào bát cô thấy sao toàn là thức ăn mặn trong bình bát của nhà sư.

    • Bạch Thầy! Những người không hiểu đạo nên họ cúng dường quý thầy thức ăn mặn. Xin cảm phiền thầy, con lấy ra và xin thầy nhận lãnh thức ăn chay của con. Tín nữ nói.

    Thế là chư Tăng cứ tiếp tục đi bát cho đến khi bình bát đầy, các ngài về chùa thọ thực và có vị tìm một nơi thanh vắng để thọ trai.

    Lời giải thích thêm:

    Chư Tăng Nam tông được phép dùng thức ăn mặn theo luật Tam tịnh nhục. Nghĩa là ai cúng thức ăn gì thì chư Tăng được phép thọ thực và ăn đúng giờ ngọ.

    Lâu lắm rồi chư Tăng ở đây không có thọ thực theo luật Tam tịnh nhục vì Phật tử đa số là Phật tử Bắc tông nên họ cúng dường thức ăn chay. Hôm ấy, chư Tăng được Phật tử Nam tông cúng dường thức ăn mặn theo luật Tam tịnh nhục, nhưng quý ngài nhận lãnh mà chưa thọ thực thì Phật tử Bắc tông đã xin phép lấy ra vì sợ các Ngài không trì chay thì phạm giới.

    Vì thế hôm đó, chư Tăng tiếp tục thọ chay trong sự im lặng và nhìn nhau trong ánh mắt và nụ cười thông cảm.

    3. Chuyện Ma

    Có một gia đình nọ có 5 người con. Tất cả đều khôn ngoan, học giỏi và hiếu hạnh. Bỗng một hôm cô gái út mang một chứng bệnh rất lạ, cô chỉ ăn ban đêm và ngủ ban ngày. Về đêm ăn nhiều và chửi la ôm xồm làm cả nhà và hàng xóm rất khó ngủ. Gia đình tìm nhiều thầy để chữa trị nhưng vô hiệu quả.

    Một người hàng xóm bảo: “Nghe nói các Thầy ở chùa Huyền Không tụng kinh trị tà hay lắm. Hãyđưa cô út đến đó thử xem”.

    Thế là gia đình và những người hàng xóm đưa cô út đến chùa Huyền Không thật đông. Gia đình gặp sư trưởng và nói:

    • Thưa thầy, nhờ thầy làm ơn tụng kinh để chữa trị dùm con của tôi, nó không giống người bình thường.

    Sư trưởng bảo tất cả đều tập trung vào Ðại hùng bửu điện. Sư trưởng ra tín hiệu mời tất cả Chư Tăng lên điện Phật để cử hành lễ.

    Sư trưởng hướng dẫn cô út, gia đình lạy Phật và quy y Tam Bảo.

    Sư trưởng dạy:

    • Con ạ, (người vô hình) hôm nay con đến đây lạy Phật và quy y là một nhân duyên lớn. Từ nay con cố tu hành đừng phá cô út nữa để gia đình cô bình an và hạnh phúc. Nay cô út ta đã quy y nhà Phật, con còn phá nữa có nghĩa là con phá chùa chiền đấy. Con hãy nghe lời thầy.

    Sau khi nghe vậy cô út (người vô hình) khóc và kể lể đủ thứ chuyện. Và nói: “Thưa thầy, con lỡ yêu cô ta”.

    Sư trưởng dạy:

    • Con là người âm, nên không được phép yêu người dương.
  • Thưa thầy! Thầy không hiểu được tâm trạng của con. Sao thầy đi tu mà còn ngăn sự yêu thương của con?

  • Con à! Thầy không có ngăn sự yêu thương của con mà thầy muốn nói với con là con thương yêu không đúng chỗ. Thầy nói với con lần cuối. Từ nay về sau con không được phép yêu cô út và khôngđược mượn xác của cô. Nếu không, thầy sẽ phạt con đó. Bây giờ con nghe thầy và chư Tăng tụng kinh.

  • Thế là chư Tăng tụng kinh Paritta.

    Thật lạ lùng, sau khóa kinh, cô út trở lại bình thường, dù cả người còn mệt mỏi và yếu ớt.

    Sư trưởng dạy:

    • Bây giờ quý vị có thể đi về. Ngày mai và ngày mốt quý vị đưa cô út đến tụng kinh tiếp thì cô út sẽ trở lại bình thường như xưa. Nhưng nhớ là hãy cho cô út uống thuốc, ăn uống và nghỉ ngơi đều đặn vì thể lực còn quá yếu.

    Sau đó không lâu, cô út hết bệnh và phục hồi sức khỏe, gia đình và những người hàng xóm khen ngợi chư Tăng chùa Huyền Không và từ đó tiếng lành đồn xa.

    Lời giải thích thêm:

    Thông thường ai bị người vô hình nhập đều có gây oan trái lẫn nhau. Do đó khi đến chùa chư Tăng tụng kinh rải lòng từ đến những người vô hình và khuyên họ cởi bỏ oan trái.

    Ðồng thời, phép quy y trong nhà Phật là một phép lạ mà các tôn giáo khác không có. Chúng sinh vô hình kém phước nhưng khi đến chùa được chư Tăng truyền phép quy y này thì họ hưởng được rất nhiều phước báu. Nhờ vậy họ hóa sanh nơi nhàn cảnh.

    Tụng kinh Paritta không phải là tụng bùa ngải như những tôn giáo khác. Kinh này là những bài kinh của đức Phật đã dạy cho những vị tỷ kheo khi tu cảnh rừng núi hoang vắng gặp khiếp đảm và sợ hãi thì trì tụng để Chư Thiên hộ trì và người vô hình không xúc phạm. Nội dung của kinh Paritta là rải lòng từ bi hỷ xả đến tất cả chúng sinh, để không oan trái lẫn nhau.

    II. TÀI LIỆU THAM KHẢO

    [1] Thông tin khoa học và công nghệ, số 1(23), 1999

    [2] Tỳ kheo Giới Ðức, Tỳ kheo Pháp Tông, Tiểu Sử và hành trạng của Ngài Tăng Trưởng hệ phái Nam tông Việt Nam

    [3] Hội Viên, Giáo hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam

    [4] Hòa thượng Giới Nghiêm, Phật giáo Nguyên thủy du nhập Việt Nam

    nguồn: budsas.org

    Phật giáo Nam tông ở Cố đô Huế