Lợi ích của việc cầu siêu

Tỳ kheo Giác Đẳng

dreamstime_86833964

Cầu siêu thì giúp gì cho người quá cố? Nhiều Phật tử quan niệm là cầu siêu để giúp thân nhân vãng sanh về cõi Phật, sự thật có đúng như vậy không?

Ngày nay chúng ta thường có hai quan niệm: Quan niệm thứ nhất là phủ nhận thẳng thừng giá trị của cầu siêu bởi vì cầu siêu mang nặng tính cách nghi lễ. Quan niệm thứ hai cho rằng việc cầu siêu là không thể thiếu được khi thân nhân quá vãng. Trong sinh hoạt tu học hàng ngày cũng như sinh hoạt đời thường của chúng ta, thường thì chúng ta phải nhân sự tùng sự, đây là điều mà chúng ta phải hiểu. Có một số phong tục và nếu những phong tục đó là một cơ hội để chúng ta gói ghém vào đó một số yếu lý của sự tu tập của người Phật tử thì chúng ta cũng có thể làm được.

Khi chúng ta thực hiện nghi thức cầu siêu thì có bốn năng lực liên quan đến khóa lễ cầu siêu có thể đem lại sự lợi lạc cho người đã quá vãng:

- Năng lực đầu tiên là năng lực của phước hạnh. Phước hạnh tức là những công việc tốt đẹp mà chúng ta làm từ bố thí, trì giới, thiền định, hay hoặc giả tụng một trang kinh - có những khoản thời gian tụng kinh Tam Bảo chẳng hạn- Đó là những phước hạnh mà chúng ta có thể hồi hướng được cho thân nhân quá vãng của chúng ta.

- Năng lực thứ hai năng lực của Chánh pháp, tức là năng lực có thể làm cho người ta tỉnh táo. Theo Kinh điển thì chúng ta biết rằng sự ra đi của con người là một cuộc phiêu lưu vô định trong vòng sinh tử luân hồi này, có những cảnh giới mà chúng ta thọ sanh vào đó không những là do chúng ta bị thiếu phước mà còn do chúng ta thiếu trí tuệ, vì oan trái, hoặc giả là vì sự sân hận, hoặc là do sự dính mắc bởi tham ái. Nếu vì nghiệp lực mà chúng ta phải tái sanh làm một chúng sanh ở thế giới bàng sanh, hay làm một loại ngạ quỷ, hay làm một loại phi nhân, thì năng lực của Kinh tụng sẽ làm cho chúng ta tỉnh thức.

- Năng lực thứ ba là năng lực của Tam Bảo. Năng lực của Tam Bảo ở đây phải được lãnh hội như một đối tượng mà đối tượng đó sẽ giúp chúng ta sinh khởi niềm tịn tính, sự hoan hỉ của mình. Đây là trường hợp giống như con voi của vua Ba-tư-Nặc [1]. Con voi của nhà vua bị sa lầy nhưng khi nghe đoàn quân nhạc đánh bài nhạc tiến quân, nó nghĩ rằng đã đến lúc ra trận, hùng khí trong lòng nó tự nhiên trổi dậy, thôi thúc nó đứng lên, rút chân ra khỏi bùn. Đối với chúng ta cũng vậy, nếu chúng ta có trí, nói nôm na theo đời thường là chúng ta có căn, khi chúng nghe Pháp, âm thanh của Pháp sẽ gợi lại cho chúng ta một cái gì đó, hoặc nếu chúng ta hiểu được bài Pháp đó thì điều đó có thể khơi dậy một sức mạnh mãnh liệt trong tâm chúng ta. Năng lực của Chánh pháp rất là huyền nhiệm.

Đức Phật dạy qua một câu Kinh Pháp Cú rằng một người có trí tuệ, khi được nghe diệu pháp lòng, của họ rộng thênh thang, giống như một đại dương, như một cái hồ sâu mà ở trong đó không có cái gì có thể làm cho vẩn đục được. Hãy ghi nhớ điều này vì nó hết sức quan trọng đối với cuộc đời của chúng ta, có những lúc chúng ta cần đến nó.

Đức Phật là một vị Pháp vương tức là vị vua của Chánh pháp, vậy mà khi Ngài bị bệnh, nghe tôn giả Cunda tụng đọc pháp Thất-giác-chi, một Pháp mà Ngài thường dạy cho chư Tỳ kheo, nghe bài Pháp đó xong Ngài thấy khỏe, bài Pháp tác động đến cả thân lẫn tâm của Ngài.

Tôi muốn nhắc đến một kinh nghiệm đời thường: Chúng tôi quen một người nhạc sĩ sống ở Paris. Vị nhạc sĩ này có một người học trò, người học trò đó sau này đi xuất gia với một vị Hoà Thượng cũng ở tại Paris. Về cuối đời, người nhạc sĩ này sống hết sức buồn và cô độc, không con không cháu. Vị tu sĩ này đi cùng với chúng tôi đến thăm thầy cũ (thầy dạy nhạc) của mình. Trong những phút cuối đời, người nhạc sĩ đó chỉ yêu cầu một điều thôi là xin vị tu sĩ dạo một bản nhạc từ chiếc piano để ở trong phòng. Vị tu sĩ quay sang hỏi ý kiến chúng tôi, chúng tôi nói rằng "Đó là một trong những cái ước nguyện sau cùng của vị nhạc sư, xin thầy cứ hoan hỉ thoả mãn cho". Mặc dù là một nhà sư nhưng tu sĩ này trước kia cũng từng học nhạc, rất giỏi về nhạc. Thầy đã đến ngồi bên chiếc piano và dạo một bản nhạc được xem như bản nhạc ưa thích của vị thầy của mình lúc còn trai tráng khỏe mạnh. Nghe xong bản nhạc đó xong, chúng tôi thấy thần sắc của người nhạc sĩ hân hoan hẳn lên như thể tìm lại được một chút sức sống nào đó. Người nhạc sĩ này qua đời khoản hơn 10 ngày sau khi chúng tôi đến thăm.

Trong cuộc sống của chúng ta có những điều ảo diệu - ảo diệu về mặt tâm lý, về mặt tinh thần- mà qua đó chúng ta có thể tìm thấy cả một điểm tựa cho cả một chân trời mới. Tương tự, một người có trí nghe Chánh pháp, tâm của họ rộng thênh thang, họ hiểu được sự thật. Điểm này tương tự như chúng ta nghe trong Kinh, đôi lúc Đức Phật chỉ dạy một câu Pháp Cú mà thay người thay đổi cuộc đời của một con người. Một điệu nhạc, một bài thơ, một cái ý tưởng cao qúi nào đó, hoặc giả là một sự cảm nhận đặc biệt , trong một tình huống nào đó, có thể thay đổi chúng ta hoàn toàn. Khi chúng ta tụng Kinh cầu siêu là chúng ta lập lại những lời dạy của Đức Phật, và đôi lúc có một số chúng sanh họ có thể cảm nhận được. Ở trong Kinh nói những loài phi nhân và ngay cả bàng sanh cũng có thể cảm nhận được âm thanh của Chánh pháp

- Và năng lực cuối cùng theo bài Kinh Tirokudda ( Kinh Ngoài bức tường) [2] thì chúng sanh sống trong cõi đời này khi sanh vào cõi khổ, họ hay nghĩ đến thân nhân của mình. Chúng ta nghe câu thơ:

“ Mai này lá rụng xin về cội”

Tại sao lá rụng thì về cội? Vì con người trong sự cô đơn, lạc lõng thường nghĩ về người thân của mình. Tương tự như vậy, những chúng sanh đã quá vãng theo Kinh Tirokudda thì những chúng sanh đó thường đến gần nhà của những người thân của mình và mong mỏi sự nghĩ tưởng của thân nhân mình đối với mình và hồi hướng phước báu cho mình. Cái tình đó rất là quan trọng.

Tôi nhớ rằng Thầy Nhất Hạnh viết ở trong quyển "Bông hồng cài áo" những lúc còn nhỏ, khi bị cảm sốt, bàn tay của mẹ rờ lên trán mình, bàn tay đó nghe nó êm ái như là tơ trời Đâu-la-mi.

Khi chúng ta bệnh, cùng là sự chăm sóc, nhưng một người săn sóc chí tình bằng tấm lòng của họ, thì chúng ta cảm thấy nó rất khác với sự săn sóc cho có. Vì vậy, trong cuộc đời này chúng sanh ở trong lúc lạc lõng, ở trong một cảnh giới chịu nhiều khổ lụy như là những khổ cảnh, họ rất cần đến tấm lòng thành của thân nhân quyến thuộc. Chúng ta tụng Kinh tức là chúng ta nói lên tấm lòng của mình. Có rất nhiều trường hợp ở trong Kinh nói về những tương duyên, túc duyên của những người sống ở trong trần gian này với những thân nhân quyến thuộc quá khứ, không phải chỉ một đời mà là nhiều đời, có đời xa xưa lắm vậy mà những quyến thuộc đó vẫn mong mỏi đón nhận được phước lành, đón nhận được sự tưởng nghĩ của thân nhân đến mình.

Qua những cảm nhận từ việc đọc Kinh sách thì chúng tôi rất tin rằng nếu thân nhân của chúng ta quá vãng, chúng ta nên có một buổi lễ cầu siêu. Cầu siêu ở đây không có nghĩa là chúng ta chỉ ngồi đó để cầu nguyện phước lành cho thân nhân chúng ta , mà chúng ta nên thể hiện công đức của mình bằng cách cúng dường, bố thí để hồi hướng phước báu cho thân nhân của chúng ta, để thể hiện tấm lòng của mình đang tưởng nghĩ đến người đã quá vãng, và đồng thời nên tụng đọc những Phật ngôn mà chúng ta mong rằng những Phật ngôn này có khả năng soi sáng, làm bừng tỉnh tâm linh của những chúng sanh đang bị bao phủ bởi những hệ lụy, chẳng hạn như những dính mắc, oan trái ở trong cuộc đời. Và theo kinh nghiệm riêng của chúng tôi, chúng tôi hoàn toàn tin rằng những việc đó rất có lợi cho đời sống hàng ngày của chính chúng ta và cho cả thân nhân đã quá vãng của chúng ta. Chúng tôi nghiệm thấy rằng ở xứ sở nào, một xã hội nào mà người ta có nghĩ đến người xa kẻ gần, người hữu hình kẻ khuất mặt, thì con người trong xã hội đó có nhiều lòng từ hơn. Trong kinh "Từ Bi" Kinh, Đức Phật dạy khi chúng ta niệm lòng từ, chúng ta nghĩ chúng sanh xa, gần, lớn, nhỏ thấy được, hay không thấy được, những chúng sanh đã sanh ra rồi hay là đang còn ở trong thai bào và sắp sanh ra, đã sanh hay sắp sanh ra, tất cả mình đều nghĩ đến. Nếu Đức Phật dạy chúng nghĩ đến các chúng sanh như vậy bằng lòng từ thì không có lý do gì mà chúng ta phủ nhận cái gía trị của cầu siêu.